ThS. ĐỖ THỊ BÍCH TUYỂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Văn bia Hán Nôm vùng đồng bằng Bắc Bộ đã lưu giữ được nhiều chứng tích quan trọng về ngôn ngữ văn tự trong đó có chữ Nôm. Chữ Nôm được khắc xen kẽ trong những câu văn chữ Hán để bù đắp sự thiếu hụt của chữ Hán khi cần truyền tải những nội dung về tên đất, tên người mà chữ Hán không thể đáp ứng được. Chiếm một tỉ lệ nhỏ trong toàn bộ bố cục văn bia chữ Hán, nhưng những tên người ghi bằng từ thuần Việt lại phản ánh được dấu vết văn tự của dân tộc thời kỳ đầu tự chủ, và yếu tố văn hóa địa phương trong cách gọi tên, đặt tên của người Việt từ xa xưa.

Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu cách gọi tên người bằng từ thuần Việt (hay còn gọi là tên Nôm) xuất hiện trên các văn bia viết bằng chữ Hán. Tên người ở đây chủ yếu gắn với những ghi chép về ruộng đất, gắn với việc công đức xây dựng các công trình công cộng thời Trung đại ở Việt Nam.

  1. Tên người bằng từ thuần Việt ghi bằng hai ký tự Hán

Dấu vết tiếng Việt có một số âm tố kép đứng đầu có thể biểu diễn bằng hai phụ âm xuất hiện từ thời Lý – Trần. Trong Sứ Giao Châu tập của Trần Cương Trung viết vào khoảng thế kỷ XIII, được Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến văn tiểu lục có hiện tượng một chữ Hán được dịch sang một từ Việt, từ này được ghi bằng hai kí tự Hán, như: thiên viết bột lồi, nguyệt viết bột lăng (nghĩa là: trời là bột lồi > trời, trăng là bột lăng > trăng. Như vậy, hiện tượng một tiếng được ghi bằng hai mã chữ đã được thể hiện rõ trong những ghi chép của người nước ngoài khi đến Việt Nam từ thế kỷ XIII trở về trước.

Sách An Nam dịch ngữ cũng là một tài liệu còn lưu lại dấu vết ngữ âm tiếng Việt khoảng thế kỷ XIV – XV trong đó có chú một số chữ như: “ngưu” bằng (cách + lâu) > klâu > trâu; “thái dương” bằng (thác + lan) > tlán > trán. H. Maspero cho rằng KL về sau đã được thay thế bằng TL trước khi chuyển sang tr tiếng Việt. Đến khoảng cuối thế kỷ XVII thì BLTL chuyển dần sang trgi(1).

Trong các loại hình văn bản thì văn bia là thể loại sớm nhất xuất hiện chữ Nôm, đặc biệt là còn lưu được dấu vết cổ của chữ Nôm qua cách thể hiện bằng ghi hai mã chữ Hán tách rời để biểu thị một âm Nôm. Nguyễn Quang Hồng gọi đó là “hiện tượng phản ánh cấu trúc ngữ âm song tiết” [39,132]. Dấu vết này cũng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ gọi là yếu tố tiền âm tiết.

Trên một số văn bia thời Lý – Trần, những trường hợp ghi tên đất, tên người bằng từ thuần Việt được ghi bằng hai âm tiết (ghi bằng hai kí tự Hán) xuất hiện khá phổ biến. Trong hai mã đó có một mã phụ ghi tiền âm tiết và một mã chính để ghi âm tiết chính. Yếu tố tiền âm tiết (mã phụ) bao giờ cũng đứng trước mã ghi âm tiết chính. Các kí hiệu ghi tiền âm tiết để ghi tên người thường gặp trên văn bia là: 阿 A, 婆 Bà, 个, 箇Cá, 巨 Cự, 可 Khả, 麻 Ma.

– Dùng tiền âm tiết A: ví dụ:

阿 浪A Lãng > Lặng: 養 母 鄧 氏 阿 浪 施 壹 百 貫Dưỡng mẫu Đặng Thị A Lãng thí nhất bách quan, [bia số 5].

阿 限A Hạn > Hẹn: 內 戶 陳 阿 限Nội hộ Trần A Hạn, [bia số 5].

– Dùng tiền âm tiết Bà:

婆 禮Bà Lễ > Trẻ:北 近 婆禮Bắc cận Phạm Bà Lễ, [bia số 5].

婆 俱Bà Câu> Câu: 信 施 婆俱 朗 柳 洞 五 面Tín thí Bà Câu Lãng Liễu động ngũ diện, [bia số 5].

– Dùng tiền âm tiết Cá:

个 林Cá Lâm > Trăm: 南 長 伍高 會 三 尺 近 武 个 林 Nam trường ngũ cao hội tam xích cận Vũ Cá Lâm > Vũ Trăm, [bia số 3]

个 令Cá Lệnh > Sệch: 范个 令Phạm Cá Lệnh, [bia số 3].

个 鳥Cá Điểu > Dẻo: 南 近 楊任 北近 阮 个 鳥Nam cận Dương Nhậm, bắc cận Nguyễn Cá Điểu, [bia số 7].

个 律Cá Luật > Lọt: 北 近 張个 律 為 界Bắc cận Trương Cá Luật vi giới, [bia số 11].

个 鹿Cá Lộc > Sộc [妻 杜氏 个 鹿 義 佛 田 三 高Thê Đỗ Thị Cá Lộc nghĩa Phật điền tam cao, [bia số 13].

箇 尼Cá Ni > Nia: 夾界 杜 箇 尼Giáp giới Đỗ Cá Ni, [bia số 5].

个 科Cá Khoa > Khoe: 東 長 十 高 界 个 科Đông trường thập cao giới Đào Cá Khoa điền,[bia số 5].

箇 支Cá Chi > Chê: 箇 支 Đào Cá Chi điền, [bia số 5]

个 帶Cá Đới > Dưới: 范 个 帶Phạm Cá Đới, [bia số 14].

– Dùng tiền âm tiết Cự:

巨栗Cự Lật > Rất: 一 主 御 前 泉 都 合 路 一 都 令 上 阮 巨 栗Nhất chủ ngự tiền Tuyền hợp lộ nhất Đô lệnh thượng Nguyễn Cự Lật đẳng…, [bia số 3].

巨浪Cự Lãng > Rạng : 阮巨 浪 梵 一 時 Nguyễn Cự Lãng phạn nhất thời, [bia số 3].

– Dùng tiền âm tiết Khả:

可礼Khả Lễ > Trẻ可礼[bia số 8].

可耒Khả Lỗi > Trỗi: 室 范氏 可耒 施 一 百 官Thất Phạm Thị Khả Lỗi thí nhất bách quan, [bia số 5].

– Dùng tiền âm tiết Ma:

麻 雷Ma Lôi = Trôi: 范 氏 麻雷 及女 阮 氏 卯 Phạm Thị Ma Lôi cập nữ Nguyễn Thị Mão, [bia số 4]

麻 朗Ma Lãng = Rạng: 所 役 火頭子 麻 朗 並 妻 宋 氏…]Đầu dịch hỏa đầu tử Ma Lãng thịnh thê Tống Thị…, [bia số 6].

麻聯Ma Liễn = Miễn, [bia số 9].

Càng về các giai đoạn sau, hiện tượng đơn tiết hóa trong văn tự đã làm rơi rụng bớt những yếu tố tiền âm tiết, từ M + L chuyển sang Ml, K + L chuyển sang Kl v.v… hoặc dùng song song: như Ml>tr; Kl> tr, s; Kđ>d v.v… Ở những giai đoạn muộn (thế kỷ XIX-XX) thì hầu như ít sử dụng nữa.

Những hiện tượng ghi bằng tiền âm tiết như trên còn thấy trong Từ điển của A.de Rhodes (thế kỷ XVII) ghi lại được ba nhóm là Bl, Tl, Ml [40]. Còn Hoàng Thị Châu thì cho rằng, quá trình biến đổi của nhóm phụ âm Bl, Kl, Tl không thể kết thúc trước thế kỷ XIX. Tác giả cho rằng: dựa vào tài liệu của John Barrow ghi chép tiếng Việt ở Hội An vào năm 1792 thì thấy ở đó vẫn còn những chùm phụ âm đầu như vậy [33,144].

Dấu vết ghi tên người thuần Việt bằng hai mã chữ tách rời trên văn bia kết thúc vào thế kỷ XV. Càng về sau tính đơn tiết của tiếng Việt trở nên phổ biến thì yếu tố tiền âm tiết bị lược bỏ đi, những mã ghi tiền âm tiết dần dần được ghi nhập vào mã chính thành chữ Nôm một mã. Theo thời gian, các tiền âm tiết (tức thành tố thứ nhất) thường bị rụng đi còn thành tố thứ hai (thường là âm tiết chính) thường được giữ lại hoặc chuyển đổi thành một âm vị khác.

Cách dùng như những trường hợp tên người kể trên còn để lại lưu tích trong các cách đọc tên làng bằng Nôm và từ Hán Việt ở một số địa phương, ví dụ:

Sang: Khả Lang (ở Quỳnh Phụ, Thái Bình).

Sẻ: Khả Lễ (ở Tiên Sơn, Bắc Ninh).

Sếu: Khuê Liễu (ở Tứ Lộc, Hải Dương).

Sọ : Phù Lỗ (ở Sóc Sơn, Hà Nội).

Sộp: Phù Lập (ở Tiên Sơn, Bắc Ninh).

Trèm: Từ Liêm (ở Từ Liêm, Hà Nội).(2)

  1. Tên người bằng từ thuần Việt gắn với tín ngưỡng dân gian của người Việt

Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa, một số cha mẹ đặt tên cho con nôm na bằng những từ thuần Việt gắn với lao động sản xuất, gắn với phong tục tập quán ở từng địa phương. Tác giả Lê Trung Hoa trong Họ và tên người Việt Nam nhìn nhận cách gọi tên của người Việt dưới góc độ dân tộc và xã hội và đặt nó nằm trong một bộ môn khoa học gọi là Nhân danh học. Tác giả cho rằng: Nhân danh học Việt Nam đã cho thấy tâm lý của người Việt Nam qua các cách đặt tên chính cho con. Một số người hiếm muộn hoặc đã có nhiều con gái mà chưa có con trai, khi đẻ được đứa con trai đầu, mừng rỡ đặt tên là Có. Người đông con quá, không muốn đẻ nữa, đặt tên cho con là Thôi, Út, Thừa, Dư, Đủ hoặc Rồi… [34,16].

Theo tín ngưỡng dân gian của người Việt, đặt tên thô tục cho con cháu mình để không gây sự chú ý của ma quỷ, để có lợi cho đứa trẻ lớn lên thành người. Thậm chí có những tên rất thô tục, rất trẻ con, như đặt tên con trai là Cu, Cò, Gầy, Còm và đặt tên con gái là Đĩ, Hĩm, Mẹt, Tẹt, v.v…Học giả Kỳ Quảng Mưu (Trung Quốc) gọi đây là hiện tượng “Đặt tên không tránh thô tục”: dù rằng đại đa số tên mang nghĩa cao nhã trang trọng, nhưng cũng có những tên rất nôm na như Bưởi, Sáu, Mười, Hến(3).

Trên văn bia, những mã chữ Nôm ghi tên người như vậy xuất hiện khá nhiều. Từ những văn bia mang niên đại nhà Lý (thế kỷ XII), cách gọi tên dân gian, rất thuần Việt đã ghi lại được dấu ấn, như Chạy豸[Trị Bình Long Ứng thứ 5 (1210)], Mấy [Long Khánh thứ 2 (1374)], Ao [Sùng Khang thứ 7 (1572)], [Diên Thành thứ 6 (1583)], Chăn [Diên Thành thứ 8 (1585)]…

Về sau, trên những văn bia mang niên đại muộn hơn cũng ghi lại hiện tượng này, như: Bện [Tự Đức thứ 17 (1864)], Cáo告[Tự Đức thứ 35 (1882)], Lưới 䋥[Kiến Phúc thứ 2 (1884)], Mỡ月美 [ Bảo Đại thứ 15 (1940)], Đen [Bảo Đại thứ 15 (1940)]…

Trên một số văn bia đã thể hiện rõ tính logic trong việc đặt tên người, như: 武 文 隊巨 Vũ Văn Đồi, 武文Vũ Văn Núi, 武文Vũ Văn Non, 武 文 迷枚 Vũ Văn Mây, niên đại Khánh Đức thứ 2 (1650) ở Hải Phòng, [bia số 18].

Tên tục thường tồn tại nhiều ở các vùng nông thôn và ở mỗi địa phương lại có tâm lý đặt tên riêng. Người Bắc trước đây đặt tên tục cho con thường là Đĩ, Hĩm (chỉ con gái), Cún, Tũn (bụ bẫm),… còn người Nam thì thường đặt là Tí, Tèo, hay số thứ tự Hai, Ba, Bốn… hay những từ thuần Việt như Giàu, Được, Bảnh, Thơm… Các tên người như: Ngô Thị Ba, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thị Chín, Dương Thị Bảy, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Thị Tép,Đỗ Thị Năm xuất hiện rất nhiều trên văn bia các thời kỳ.

  1. Xưng gọi người đàn ông, đàn bà bằng những từ dân gian, thông tục

3.1. Xưng gọi đàn ông là Thằng, Lão

Văn bia chữ Hán là một loại văn bản mang tính hành chính rất cao, nên hiện tượng dùng khẩu ngữ (văn nói) sử dụng trên văn bia là rất ít. Thông thường khi khắc tên người, người ta thường khắc cả họ tên, ví dụ: Lê Văn Thịnh; nếu có chức sắc, học vị thì ghi là: Thái sư Lê Văn Thịnh hay Canh Tuất khoa Cử nhân Lê Hữu Điểm. Còn những người bình dân thì chỉ khắc họ tên như Vũ Văn Đôi, Vũ Thị Tươi, v.v… hoặc thêm từ ông hay.

Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, những từ để gọi người đàn ông như thằng, lão, nhà là cách nói thông thường, nhưng trên văn bia hiện tượng này lại hiếm gặp. Cách gọi thằng trong kết cấu: Thằng + tên người (tức là gọi thẳng tên) không phải là cách gọi cổ, mà chính là vốn từ tiếng Việt đã được sử dụng từ rất xa xưa (trên văn bia thế kỷ XIII) và lại được sử dụng rất phổ biến trong thời hiện đại.

Thằng: Trong tiếng Việt hiện đại, từ thằng được hiểu với nghĩa không tôn trọng, hoặc để chỉ đàn ông nói chung (người trẻ tuổi). Còn trong tiếng Việt xưa, từ thằng cũng dùng để chỉ đàn ông nói chung, nhưng chỉ những người bình dân làm nghề bình thường.

Ví dụ:

* 忽有妖童尚衰為稱Hốt hữu yêu đồng Thằng Suy vi xưng. (Nghĩa là: Bỗng có một thằng nhỏ quái lạ, gọi nó là Thằng Suy), [bia số 1].

* 會罕記十人尚咸尚豸尚皂尚來…Hội hãn kí thập nhân: Thằng Hàm, Thằng Chạy, Thằng Tạo, Thằng Lai… (Nghĩa là: Hội Hãn ký gồm 10 người: Thằng Hàm, Thằng Chạy, Thằng Tạo, Thằng Lai…), [bia số 2].

* 悟 善 居 仕 施 奴 二 人 尚 大媄 㛪Ngộ Thiện cư sĩ thí nô nhị nhân Thằng Đại, Mế Em (Nghĩa là: Cư sĩ Ngộ Thiện cho hai người hầu là Thằng Đại và Mế Em), [bia số 10] niên đại Đại Trị thứ 10 (1367) ở Hà Giang.

Ba ví trên đều xuất hiện trên văn bia mang niên đại thời Trần. Ở văn bia mang niên đại muộn hơn – niên đại Hoằng Định thứ 12 (1612), cũng thấy xuất hiện 2 lần: Nhất sở Thằng Ngô 尚吾 xứ điền nhị sở cộng nhất mẫu. (Nghĩa là: Một thửa ruộng ở xứ Thằng Ngô tổng cộng 1 mẫu), [bia số 15].

Như vậy, chữ Thượng (Hán) dùng ghi âm Thằng (Nôm) chỉ người đàn ông đã xuất hiện trên văn bia có niên đại rất sớm. Trên văn bia ở giai đoạn muộn hơn (từ thế kỷ XVIII trở về sau), hầu như không thấy xuất hiện hiện tượng này nữa. Điều đó cũng cho thấy cách xưng gọi theo văn nói và văn viết (mang tính hành chính) đã có khoảng cách rất lớn về ngôn từ.

Ngoài cách gọi là Thằng, còn gặp hiện tượng gọi người đàn ông là老Lão. Cách gọi lão trong tiếng Hán mang nét nghĩa chỉ sự lâu bền, già cả. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, từ lão trong nhiều trường hợp dùng để chỉ đàn ông trung niên nói chung (không phải là người già cả như nghĩa gốc Hán). Ví dụ:

一 所 同 庵 處 一 高 七 尺 西 近 老 Nhất sở Đồng Am xứ nhất cao thất xích, tây cận Lão Thẳng (Một thửa ruộng ở xứ Đồng Am gồm 1 sào 7 thước, phía tây gần ruộng Lão Thẳng), [bia số 22].

Có lẽ đây là cách chỉ người đàn ông nói chung (có lẽ tính từ trung niên). Ngày nay trong lời ăn tiếng nói của đại chúng nhân dân vẫn tồn tại cách nói cái lão này.

Nhà: Từ điển tiếng Việt giải thích từ nhà có nhiều nghĩa, ngoài nghĩa gốc là ngôi nhà, gia đình, vẫn thường dùng, còn có nghĩa là từ dùng trong đối thoại để chỉ cá nhân người khác một cách thân mật hoặc với ý coi thường, ví dụ: cái nhà chị này hay nhỉ.

Trên văn bia, chúng tôi nhận thấy, hiện tượng mang nghĩa như trên cũng xuất hiện khá nhiều, tức là chỉ cá nhân (người), ví dụ:

* Nhất sở Nhà Bé xứ nhất cao ngũ xích (Một thửa ở xứ Nhà Bé gồm 1 sào 5 thước), [bia số 20].

* Nhất sở tam cao đông cận Nhà Sửu茹 丑, tây cận Nhà Thầy Hợp茹柴合 (Một thửa 3 sào, phía đông gần Nhà Sửu, phía tây gần Nhà Thầy Hợp), [bia số 20].

* Điền nhất sở Cầu Cả xứ tam cao bán đông cận Nhà Ấp 茹邑(Một thửa ruộng ở xứ Cầm Cả 3 sào rưỡi, phía đông gần Nhà Ấp), [bia số 21].

* Đông cận Nhà Thiết茹切, tây cận Ông Cai翁荄,[bia số 23].

Cách xưng gọi này mang tính ước lệ, cũng có thể chỉ sự sở hữu (của ai đó), cũng có thể chỉ một cá nhân người (để chỉ đàn ông hoặc đàn bà). Hiện tượng gọi cá nhân người là nhà hầu như ít gặp trên văn bia ở giai đoạn muộn hơn (thế kỷ XIX-XX).

3.2. Xưng gọi đàn bà là: Ả, Nở, Mế, Mụ

Cách gọi thông thường của người Việt khi chỉ người phụ nữ là , như Bà Hàn, Bà Cử, Bà Tám, Bà Năm… Ngoài ra, cách gọi dân gian truyền thống như Ả, Mụ xuất hiện nhiều trên những văn bia có niên đại sớm.

– Gọi người đàn bà là Ả:

Từ trong tiếng Việt cổ được dùng để chỉ người con gái lớn (đứng đầu) trong gia đình, hoặc trong một cộng đồng. Từ nghĩa đó từ thể hiện người đàn bà có uy vọng trong một cộng đồng dân cư. Trên văn bia Sùng Khánh tự bi, niên đại Đại Trị thứ 10 (1367) ở Hà Giang, có ghi tên người là như sau: 其 配 則 父 道女 阮 婀 取 禮 貞 淑 也kì phối tắc Phụ đạo nữ Nguyễn Ả, thủ lễ trinh thục nữ dã (nghĩa là: lấy con gái đầu của Phụ đạo họ Nguyễn, là người con gái giữ lễ trinh thục), [bia số 10].

Trong thơ ca cổ, từ Ả được sử dụng rất phổ biến. Ví dụ:

“Một hai rằng chẳng lệ chi

Gái Ả giữ vì cho được lâu ru?”

(Thiên Nam ngữ lục)

“Khác gì Ả Chức, chị Hằng

Bến sông sùi sụt cung trăng chốc mòng.”

(Chinh phụ ngâm khúc)

Trong dân ca xứ Nghệ còn lưu truyền câu hát: Ả em gấy như trấy cau non, Ả em du như bù nác nẻ. (Nghĩa là: Chị em gái như trái cau non, Chị em dâu như bồ nước nẻ).

Trên những văn bia có niên đại thế XVII, từ được dùng trong trường hợp ghi tên một số vị công chúa được thờ tự ở làng, như: Ả Lã Nàng Đê công chúa, trên văn bia Chủ Bà Ả tự bi mang niên đại Vĩnh Tộ thứ 2 (1620) ở Hà Nội [bia số 16]; Ả Lã Nàng Đê công chúa, Ả Rồng Nhĩ Tiên công chúa trên bia mang niên đại Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) [bia số 17], ở Bắc Ninh. Vậy thì những từ như trên chỉ người con gái đẹp và có uy vọng.

Bia Ngoại tổ tự hiệu dựng triều Nguyễn tại nhà thờ họ Nguyễn xã Kim Lũ huyện Thanh Trì, Hà Nội ghi: Nhất sở tứ cao tọa lạc婀 拳Ả Quyền xứ (Một thửa ruộng 4 sào tọa lạc tại xứ Ả Quyền), [bia số 30]. Như vậy, rất có thể Ả Quyền là tên một người đàn bà có uy vọng đã tồn tại từ rất lâu đời ở vùng Kim Lũ.

Trong văn bản Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du (thế kỷ XIX) cũng có câu Đầu lòng hai ả Tố Nga.

Qua một số dẫn chứng với từng nét nghĩa của từ , có thể nhận thấy: từ theo nghĩa cổ chỉ người con gái đứng đầu trong một gia đình, một cộng đồng người và mang thêm một nét nghĩa là có sắc đẹp.

Gọi người đàn bà là Nở:

Ở những văn bia mang niên đại sớm, cách gọi đàn ông, đàn bà còn mang tính thô mộc, gắn với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Bên cạnh cách gọi đàn bà là Mụ, Ả, còn gặp cách gọi là Nở. Cách gọi này xuất hiện rất sớm trên văn bia đời Trần, có niên đại ước đoán 1343 ở núi Dục Thúy – Ninh Bình: 東 長 九 高 六 十 尺 半 近 Đông trường cửu sào lục thập xích bán cận Nở Viết (phía đông gồm 9 sào 60 thước rưỡi, gần Nở Viết), [bia số 5].

Từ Nở ở đây được hiểu theo ý chỉ người đàn bà. Sau này, trong cách nói hàng ngày, người ta hay dùng để chỉ những người đàn bà xấu xí, như Thị Nở.

Gọi người đàn bà là Mụ:

Từ điển tiếng Việt giải thích, mụ chỉ người đàn bà có tuổi (thường hàm ý coi khinh). Tuy nhiên trên văn bia, có lẽ từ mụ chỉ người phụ nữ bình thường ở nông thôn và là cách gọi mang tính địa phương rõ rệt.

* Nhị sở điền tương liên nhất mẫu tọa lạc Mụ Nồi xứ (bia mang niên đại Cảnh Hưng thứ 15 (1754) ở Hải Dương), [bia số 19].

* Mụ Lại Cứu, Mụ Tài các nhất quan. (Mụ Lại Cứu, Mụ Tài mỗi người 1 quan)

Mụ Chưởng cộng tứ quan (Mụ Chưởng tổng cộng 4 quan), [bia số 25].

Ở vùng Thừa Thiên – Huế, từ xưa tới nay, từ mụ là đại từ nhân xưng ngôi thứ 2, được sử dụng khi đối thoại trực tiếp mà không mang hàm ý xấu.

Ngoài ra còn có cách gọi là Mế, phản ánh dấu vết phương ngữ vùng núi tỉnh Hà Giang xưa. Ví dụ: 悟 善 居 仕 施 奴 二人 尚 大 媄 㛪Ngộ Thiện cư sĩ thí nô nhị nhân Thằng Đại, Mế Em (Nghĩa là: Cư sĩ Ngộ Thiện cho hai người hầu là Thằng Đại và Mế Em), [bia số 10] niên đại Đại Trị thứ 10 (1367).

Chữ媄thường phiên là mẹ (theo tiếng Kinh), nhưng khi đọc phải căn cứ vào vùng miền, nhất là những tỉnh miền núi phía Bắc thường xưng gọi các cô, các mẹ là mế. Cách gọi này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

  1. Gọi tên người gắn với phố phường buôn bán

Tên người gắn với phường hội buôn bán được ghi bằng từ thuần Việt thể hiện sinh động trên một số văn bia mang niên đại đầu thế kỷ XX ở Hà Nội. Đây là những văn bia ghi tên người công đức xây dựng các ngôi chùa lớn của Hà Thành như chùa Quang Minh, chùa Quang Hoa, chùa Phúc Khánh, đều được khắc vào niên hiệu Bảo Đại (1926-1945) cuối thời Nguyễn, đã ghi lại được cách gọi tên người gắn với tên gọi các phố phường Hà Nội. Ví dụ:

*  長 行 Bà Trường Hàng Trống tứ nguyên (Bà Trường Hàng Trống cúng 4 đồng).

 財 行 斤Bà Tài Hàng Cân ngũ nguyên (Bà Tài Hàng Cân 5 đồng).

 行 木高Bà Ba Hàng Gạo nhất nguyên (Bà Ba Hàng Gạo 1 đồng).

 行 Bà Hàng Bánh nhị nguyên (Bà Hàng Bánh 2 đồng), [bia số 27].

*  縣 行 桃 Bà Huyện Hàng Đào cúng nhị thập nguyên (Bà Huyện Hàng Đào cúng 20 đồng).

 伯 南Bà Bá Cửa Nam cúng nhị thập nguyên (bà Bá Cửa Nam cúng tiền 20 đồng).

 鉢 行 Bà Bát Hàng Nón cúng tượng nhất tòa (bà Bát Hàng Nón cúng một pho tượng).

 寄 銅 壺Bà Ký Đồng hồ cúng tam nguyên (Bà Ký Đồng Hồ cúng 3 đồng), [bia số 28].

* 具 郎 全 浦 行 泊Cụ Lang Toàn phố Hàng Bạc tam nguyên (Cụ Lang Toàn phố Hàng Bạc 3 đồng).

具 童 武 石Cụ Đồng Vũ Thạch ngũ nguyên (Cụ Đồng Vũ Thạch cúng 5 đồng), [bia số 29].

Các phố phường buôn bán như Hàng Trống, Hàng Gạo, Hàng Bánh, Hàng Nón, Hàng Bạc, Hàng Đào, Cửa Nam… là tên gọi ba mươi sáu phố phường của Hà Nội buôn bán sầm uất đầu thế kỷ XX.

  1. Gọi tên người đàn ông theo chức sắc, đàn bà theo chức của chồng bằng từ thuần Việt

Cách gọi tên của người Việt thay đổi theo các tầng lớp trong xã hội, phản ánh tâm lý văn hóa dân tộc từ sự tiếp thu của văn hóa Trung Hoa và văn minh phương Tây. Đối với quan lại thì gọi bằng chức vụ và tên chính, như Huyện Điểm, Tổng Lương v.v… Còn đối với những phụ nữ có chồng làm quan thì được gọi là Bà Huyện, Bà Lý v.v…

Ngày xưa, địa vị người phụ nữ rất thấp hèn, trong đời sống hàng ngày người ta thường xưng gọi một phụ nữ bằng họ tên của chồng, trước họ tên của chồng thường thêm một từ xưng hô xã hội. Ví dụ tên của tác giả nữ của những bài thơ Nôm nổi tiếng Qua Đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà, Thăng Long thành hoài cổ… thông thường người ta gọi là Bà huyện Thanh Quan, vì chồng bà từng làm Tri huyện Thanh Quan tỉnh Thái Bình. Nữ luật sư Phạm Thị Thanh Vân đã từng đấu tranh anh dũng trong phong trào yêu nước trước khi đất nước Việt Nam được thống nhất, trên báo chí người ta căn cứ họ tên của chồng bà mà gọi bà là Ngô Bá Thành. Trong đời sống hàng ngày những cách gọi đó tồn tại một cách phổ biến và hết sức bình thường, ví dụ trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan thì vợ của anh Pha được người ta gọi là chị Pha. Góp thêm một nguồn tư liệu phản ánh, trên văn bia cũng ghi được cách gọi tên mang dấu vết văn hóa của người Việt. Ví dụ:

* 田一所在坡磊處貳高兌近翁縣佳 Điền nhất sở tại Bờ Suối xứ nhị cao đoài cận Ông Huyện Giai (Một thửa ruộng ở xứ Bờ Suối gồm 2 sào, phía tây gần Ông Huyện Giai) [niên đại Cảnh Hưng thứ 34 (1773) – Hà Nội], [bia số 22].

* Đông cận nhà Thiết, tây cận Ông Cai翁荄 (phía đông gần Nhà Thiết, phía tây gần nhà Ông Cai) [niên đại Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) – Bắc Giang], [bia số 24].

* 東 近 饒 豪 Đông cận Nhiêu Hào (phía đông gần nhà Nhiêu Hào) [niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858) – Hải Dương] [bia số 26].

* 東 近 饒 漸Đông cận Nhiêu Tiệm (phía đông gần nhà Nhiêu Tiệm), [bia số 22].

* 東 近  具 該đông cận Bà cụ Cai (phía đông gần ruộng nhà Bà Cụ Cai), [bia số 22].

Các chức Nhiêu, Cai, Huyện,… được gắn với tên người đã trở thành phổ biến trong đời sống xã hội Việt Nam ở nhiều địa phương thời phong kiến và xuất hiện nhiều trên văn bia có niên đại từ cuối thế kỷ XVIII.

Riêng một số văn bia ở Hà Nội mang niên hiệu Bảo Đại triều Nguyễn, cách ghi này thể hiện một cách rõ rệt. Ví dụ:

* 翁 正 錦 Ông Chánh Cẩm nhị thập nguyên; 翁 判 壽Ông Phán Thọ nhị thập tam nguyên; 管Bà Quản tam thập nguyên;  徒 Bà Đồ nhất nguyên;  教 礼 Bà Giáo Lễ ngũ nguyên;  記 楊 Bà Ký Dương thập nguyên…., [bia số 27].

* 縣Bà Huyện cúng thập nguyên; 記綠Bà Ký Lục cúng nhị thập nguyên; 參意Bà Tham Ý cúng nhị thập nguyên; 翁 翰 Con gái ông Hàn Bảy cúng […]; 姑 督 定Cô Đốc Định cúng tượng nhất tòa; 翁判 財, 翁 判 正Ông Phán Tài, Ông Phán Chínhcúng cửu lượng đồng đăng nhất kiện (Ông Phán Tài và Ông Phán Chính cúng 9 lượng và 1 cây đèn), [bia số 28].

* 甫 該Bà Phủ Cai cúng ngũ nguyên;  寒 道Bà Hàn Đạo cúng tượng nhị thập nguyên; 鄉正Bà Hương Chánh cúng nhất nguyên…, [bia số 29].

Những văn bia này đều có niên đại Bảo Đại (1926-1945) cuối triều Nguyễn. Giai đoạn này, chữ Nôm đã phát triển đến mức trở thành văn tự gần như phổ biến trong dân gian bởi ngôn ngữ gần với văn phong tiếng Việt (chữ Quốc ngữ). Việc vận dụng lối chữ Nôm xen Hán để diễn đạt trên văn bia đã giúp câu văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu. Như thế có thể nhận thấy, chữ Nôm đã thoả mãn nhu cầu ghi chép ngày càng đa dạng của một bộ phận những người hay chữ. Cách gọi tên người như: Bà Bát Hàng Nón, Bà Bá Cửa Nam, Cụ Lang Toàn Hàng Bạc, Con gái ông Hàn Bảy v.v… đã tạo lên sự bình dân hóa trong việc sử dụng ngôn ngữ. Lời ăn tiếng nói của người Hà Thành đã in dấu ấn trên văn bia một cách đậm nét. Mặt khác, cách gọi tên người gắn với địa vị xã hội đã phản ánh văn hóa gọi tên của người Hà Nội giai đoạn đầu thế kỷ XX. Cách gọi Cụ Cử, Bà Phán, Cô Đốc, Bà Hương, Bà Ký v.v… đã tạo lên sự phân biệt giai cấp, ảnh hưởng theo lối tiểu tư sản thành thị. Đó cũng là tình hình chung của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

Xét về bản chất, ngôn ngữ có sự chia tách thành ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói. Bên cạnh đó có sự chia tách phương ngữ thành thị và phương ngữ nông thôn. “Phương ngữ thành thị thường tiến bộ hơn và góp phần vào việc đẩy mạnh quá trình thống nhất ngôn ngữ, còn phương ngữ nông thôn mang tính chất bảo thủ hơn, trong đó có chứa đựng nhiều dấu vết của những từ, những hình thái cổ”, [32,54].

Nhận xét

Chữ Nôm ghi tên người thuần Việt trên văn bia theo tiến trình thời gian có sự thay đổi rất rõ rệt. Ban đầu do ảnh hưởng của lối ghi bằng hai mã tách rời để ghi một tiếng Việt nên ít nhiều những tên người trên văn bia từ thế kỷ XIII đã phản ánh được dấu vết văn tự của thời kỳ này.

Cách gọi tên người trên văn bia cũng có sự thay đổi. Những cách gọi là Thằng, Nở, Mụ… xuất hiện trên văn bia có niên đại sớm. Càng về những giai đoạn sau, cách gọi thông tục mang tính địa phương đã dần nhạt, thay vào đó được gọi bằng các từ mang tính thông dụng như Ông, … Đặc biệt trên những văn bia ở đất kinh thành thì yếu tố văn minh âu hóa đã thể hiện khá rõ nét bằng cách gọi tên người bằng Bà Cử, Cô Đốc, Ông Hàn… Cách gọi này, chúng ta gặp nhiều trong các tác phẩm văn học giai đoạn 1930-1945 (văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán).

Tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ trong bố cục văn bia, nhưng chữ Nôm ghi tên người đã phản ánh được dấu ấn tên người thuần Việt của địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ gắn với phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian. Những mã chữ Nôm trên văn bia ghi cách gọi tên người theo lối riêng của người Việt hy vọng góp phần tìm hiểu thêm về phong tục tập quán của người Việt xưa và tính kế thừa trong thời đại ngày nay.

 

Chú thích:

(1) Heri Maspero: Etudes sur La phonetique Historique de la Langue Annamite. Les Initiales BEFEO, 1912

(2) Dẫn theo Hoàng Thị Ngọ: Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, tr.100-101.

(3) Kỳ Quảng Mưu: Đặc điểm văn hóa phản ánh trong cấu trúc họ tên của người Việt, Tạp chí Hán Nôm, số 3/2008.

Tài liệu tham khảo

  1. Tài liệu văn bia trích dẫn
1. Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi tịnh tự Năm 1159 Bản chép Hưng Yên
2. Báo Ân thiền tự bi ký報 恩 禪 寺 碑 記 Trị Bình Long Ứng thứ 5 (1210) 4102-03 Vĩnh Yên
3. Đại Bi Diên Minh tự bi大 悲 延 明 寺 碑 Khai Thái thứ 4 (1327) 5309-12 Hưng Yên
4. Sùng Thiên tự bi崇 天 寺 碑 Khai Hựu thứ 3 (1331), 5114-15 5114-15 Hải Dương
5. Nhất kí thiên long tự thường trụ tam bảo vật壹 記 天 龍 寺 常 住 三 寶 物 Ước đoán 1343 29122 Ninh Bình
6. Hưng Phúc tự ma nhai興福寺磨厓 Thiệu Phong thứ 17 (1357) 19162 Ninh Bình
7. Thắng Nghiệp Luật tự thạch trụ勝業律寺石柱 Đại Trị thứ 3 (1360) chưa kí hiệu Hà Nội
8. Thanh Mai Viên Thông tháp bi

青梅圓通塔碑

Đại Trị thứ 5 (1362) chưa kí hiệu Hải Dương
9. Phổ Thành tự bi Phật普成寺碑佛 Đại Trị thứ 9 (1366) 4516-17 Bắc Ninh
10. Sùng Khánh tự bi minh tịnh tự

崇慶寺碑銘并序

Đại Trị thứ 10 (1367) 30274 Hà Giang
11. Sùng Nghiêm tự bi崇嚴寺碑 Thiệu Khánh thứ 3 (1372) 20965 Thanh Hóa
12. Quế Dương thôn Đại Bi tự phật bàn桂楊村大悲寺佛磐 Long Khánh thứ 2 (1374) ? Hà Nội
13. Ngô thị gia bi吳氏家碑 (1366-1395) 39706/07 Hà Nội
14. Diên Khánh tự bi kí延 慶 寺 碑記 Hồng Đức thứ 4 (1473) 4486 Bắc Ninh
15. Quỳnh Hoa Linh Xuân phúc ấm vạn ninh/Lộc khê [Nam Vô] đẳng chi kiều bi 瓊 華 靈 春 福 蔭 萬 寧 / 祿 溪 南 無 等之橋碑 Hoằng Định thứ 12 (1612) 3217-18 Thái Bình
16. Chủ Bà Ả tự bi主 婆 阿 寺 碑 Vĩnh Tộ thứ 2 (1620) 3101-02 Hà Nội
17. Công chúa sự tích 公 主 事 跡 Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) 4797-98 Bắc Ninh
18. Sùng Phúc tự bi kí崇 福 寺 碑 記 Khánh Đức thứ 2 (1650) 8701-02 Hải Phòng
19. Hậu thần bi kí後神碑記 Cảnh Hưng thứ 15 (1756) 12086-87 Hải Dương
20. Hậu thần bi kí後神碑記 Cảnh Hưng thứ 31 (1771) 10726-29 Bắc Giang
21. Hậu phật bi kí後佛碑記 Cảnh Hưng thứ 33 (1772) 9187-90 Bắc Giang
22. Hậu phật bi kí後佛碑記 Cảnh Hưng thứ 34 (1773) 1033 Bắc Giang
23. Tân tạo tác Hậu Phật bi 新 作 后 佛碑 Quang Trung thứ 2 (1789) 10163- 64 Bắc Giang
24. Hậu thần bi kí後神碑記 Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) 9004- 05 Bắc Giang
25. Vĩnh Ninh bi kí永寧碑记 Gia Long thứ 17 (1818) 4125-26 Thái Bình
26. Hậu thần bi kí後神碑記 Tự Đức thứ 11 (1858) 18764-65 Hải Dương
27. Không tên/ chùa Quang Hoa Bảo Đại (1926-1945) 18701-02 Hà Nội
28. Không tên /Chùa Phúc Khánh Bảo Đại (1926-1945) 19865 Hà Nội
29. Không tên/ Chùa Quang Minh Bảo Đại (1926-1945) 17086 Hà Nội
30. Ngoại tổ tự hiệu 外祖字 號 Dựng đời Nguyễn Ở địa phương Hà Nội

Và một số văn bia khác.

  1. Sách và tạp chí tham khảo
  2. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa (Huế) tái bản năm 1994, tr.31.
  3. Phan Kế Bính: Việt Nam phong tục khảo, Nhà sách Khai Trí – Sài Gòn, 1973.
  4. Hoàng Thị Châu: Tiếng Việt trên mọi miền đất nước, Nxb. KHXH, H. 1989.
  5. Lê Trung Hoa: Họ và tên người Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 2002.
  6. Nguyễn Quang Hồng: Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nxb. Giáo dục, H. 2008.
  7. Kỳ Quảng Mưu: Đặc điểm văn hóa phản ánh trong cấu trúc họ tên của người Việt, Tạp chí Hán Nôm, số 3/2008.
  8. 37. Nghiên cứu chữ Nôm, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, H. 2004.
  9. Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, 22 tập, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  10. Từ điển chữ Nôm Nguyễn Quang Hồng chủ biên, Nxb. Giáo dục, H. 2006.
  11. Từ điển Việt – Bồ – La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) Alexandre de Rhodes xuất bản tại Roma năm 1651 (Nxb. KHXH tái bản năm 1991, có chú giải).
  12. Từ điển tiếng Việt. Trung tâm từ điển học, Nxb. Đà Nẵng, 2007.
  13. Từ điển từ Việt cổ. Vương Lộc, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2002./.

(Tạp chí Hán Nôm, số 3 (118) 2013; tr. 39-49)


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: ,