THƯ PHÁP CỦA HOÀNG HY ĐỖ

KIM ANH

Thư pháp, thư hoạ là sản phẩm của nền văn hoá dùng chữ viết tượng hình. Có thể thấy, ở tất cả các nước dùng loại chữ tượng hình, chữ khối vuông đều có môn học về thư pháp và nghệ thuật thư pháp. Chữ viết tượng hình ngay từ khởi thủy đã được chú trọng về mặt thư pháp và thư pháp được coi như một nghệ thuật. Càng về sau nghệ thuật này càng phát triển và trở thành một bộ môn nghệ thuật sang trọng, quý phái. Đặc biệt ở Trung Quốc và Nhật Bản, như có người nói, nghệ thuật này đã được nâng lên đến mức siêu tuyệt “không phải dòng mực mà là hơi thở từ trái tim người nghệ sĩ đang theo cán bút thoát ra đầu ngọn bút mà hiện thành chữ trên giấy”. Rất nhiều bút pháp của các nghệ sĩ cổ đại cũng như hiện đại được giới quan tâm đến nghệ thuật này thán phục.

Riêng ở Việt Nam, bộ môn này ít được chú trọng hơn so với các nước đồng văn khác và những người “chơi” nghệ thuật này cũng rất hiếm hoi. Phạm Đình Hổ, một học giả thế kỷ XVII-XVIII khi khảo cứu về nghệ thuật này đã phải than thở: “Từ đời Tần đời Hán trở xuống, lấy chữ tốt nổi tiếng ở đời thì đời nào cũng có. Như Thái Ung, Chung Do đời nhà Hán; Vệ phu nhân và cha con Vương Hy Chi đời nhà Tấn. Lề thói di truyền, kẻ trước người sau, nổi tiếng chữ tốt cũng nhiều. Vua Đường Văn hoàng là bậc thiên tử có muôn cỗ xe mà còn ưa lối chữ phi bạch. Vua Lương Vũ Đế và Vương Dật Thiếu cũng nổi tiếng chữ tốt. Các vị công khanh có tiếng đời nhà Đường như Ngụy Trưng, Trữ Lượng, Ngu Thế Nam, Trử Toại Lương cho đến các họ Nhan, Liễu, hàn, Bạch, đều là danh gia có tiếng chữ tốt cả. Đời nhà Tống hơn 300 năm, các bậc trên nho cũng nhiều, như là thầy Chu, thầy Trình, họ Trương, họ Chu, họ Ngụy cùng với họ Tô, họ Hoàng, họ Tống, đến nay vẫn hãy còn truyền bút tích lại, xem ra cực tốt… Nước ta có tiếng là văn hiến không khác gì nước Trung Hoa, thế mà về một việc viết chữ lại cho là việc của kẻ thơ lại, không ai thèm lưu ý đến, không biết tại sao?(1).

Tuy nhiên, hiếm không có nghĩa là không có. Cũng chính Phạm Đình Hổ đã cho chúng ta biết đến bút pháp “hùng tú tự nhiên” của vua nhà Lý và các lối chữ đáng được lưu ý trên các tấm bia bức hoành ở các đời khác nhau(2). Ngoài ra, chúng ta còn được nghe truyền nhắc về bút pháp nổi tiếng của Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, cùng nhiều ông vua triều Nguyễn, Kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ nhiều văn bản Hán cổ chép tay với bút pháp đáng được nghiên cứu.

hhd

Cũng trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ đã giới thiệu tương đối kỹ một nhà thư pháp đời Lê mạt: Hoàng Hy Đỗ.

Hoàng Hy Đỗ là một người trong nhóm bạn tâm giao của Phạm Đình Hổ ở Kinh thành Thăng Long vào cuối thế kỷ XVIII. Ông nguyên là người Quảng Đông, phố Tấn Hội. Đến đời cha mới sang ngụ ở Hoa Dương, trấn Sơn Nam, rồi trở thành người Việt Nam. Phạm Đình Hổ viết về ông như sau: “Ông thông minh dĩnh ngộ, các sách tiểu thuyết dã sử đều xem qua hết. Ông lại thích về nghề thơ từ ngâm vịnh. Phàm thơ của các danh gia từ đời Hán, Ngụy, Đường, Tống, Minh ông đều xem qua và đọc thuộc cả. Ông thường có câu thơ vịnh ngọc lan: “Sắc đẹp lượt là thường mộng thấy; Hương thơm bát ngát đáng xưng vương”. Lại có câu: “Trân trọng chớ hiềm tri kỷ ít; Tào đàn từng đã dự bình chương”. Hay có câu tả lúc ở đất khách nghe chim nhạn: “Nếu bay qua tới hương quan đó, Nhủ báo thư về cúc nở hoa”. Xem những câu thơ ấy tự khắc biết người vậy. Ông lúc nhỏ viết lối hành thảo rất tốt, bắt chước được lối chữ của Mễ Nam Cung, Đổng Kỳ Xương, hễ cầm bút lên thì rụt rè như thế không viết được, nhưng lúc đã đặt bút xuống giấy thì nét chữ tươi tắn, có cái ý nhị của hoa đào đọng giọt mưa bụi, lá dương phủ làm khói nhẹ”(3).

Phạm Đình Hổ có nhờ Hoàng Hy Đỗ chép cho mình một tập thơ gồm hơn 100 bài, điều này đã được Nguyễn Ánh(4), người viết tựa cho tập thơ xác nhận: “Hữu nhân Hoàng Hy Đỗ vị chi thư” (Người bạn là Hoàng Hy Đỗ chép lại cho). “Tập tất tương hữu truyền yên Hy Đỗ chi thư diệc đắc nhân nhi truyền yên” (tập thơ tất sẽ được truyền tụng (…). Chữ viết của Hy Đỗ nhân đó cũng được lưu truyền(5). Như vậy qua miêu tả của Phạm Đình Hổ và qua sự xác nhận gián tiếp của Nguyễn Ánh, những người cùng thời với Hoàng Hy Đỗ, chúng ta có thể khẳng định Hoàng Hy Đỗ là một nhà thư pháp đời Lê mạt Nguyễn sơ và tập thơ của Phạm Đình Hổ hiện còn với tiêu đề Đông Dã học ngôn thi tập A.1871 là do chính tay Hoàng Hy Đỗ chép lại. Tập thơ gồm hơn 100 bài này, từ trang đầu đến trang cuối được viết bằng lối chữ nửa chân nửa thảo tuyệt đẹp. Dưới đây xin giới thiệu vài trang để chúng ta có một ý niệm chung về thư pháp Hoàng Hy Đỗ.

CHÚ THÍCH

(1) (Phạm Đình Hổ: Vũ trung tuỳ bút, Nxb. Trẻ, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh, 1989, tr.30-31.

(2) Vũ trung tuỳ bút, Sđd.

(3) Vũ trung tuỳ bút Sđd.

(4) Nguyễn Ánh (1770-1815): bạn thân của Phạm Đình Hổ. Ông người làng Du Lâm, huyện Đông Ngạn, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Làm quan dưới triều Nguyễn, cùng viết chung với Phạm Đình Hổ tác phẩm Tang thương ngẫu lục.

(5) Đông Dã học ngôn tập tự. Xem Đông Dã học ngôn thi tập, kí hiệu A.1871. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: , ,