Thầy Phạm Văn Ánh
Viện văn học

Từ vốn được coi là thể loại văn học “diễm mĩ”, thiên về tả tình, nhất là tình cảm trai gái khi “trước chén, trong hoa” (tôn tiền nguyệt hạ). Tuy nhiên phạm vi ứng dụng của nó đôi khi cũng được nới rộng. Trong từ sử, có tác giả từng dùng từ để ngoại giao, đề từ, thậm chí để nói chí; song dùng từ để ca tụng công đức tổ tiên, khắc vào biển gỗ để tự lại là trường hợp hiếm gặp. Bài từ điệu Thiên tiên tử ở nhà thờ Đại tôn dòng họ Nguyễn Huy tại làng Trường Lưu, xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là trường hợp như vậy.

Bảng gỗ thứ nhất:

山之秀氣石之精繄惟我高祖獨鍾靈少年秋棘冠羣英郡朝經試政播聲名.

Bảng gỗ thứ hai:

乘彼青鸞駕白雲神歸天上澤留人好生一念体洪鈞憑仙力壽斯民光岳千秋永不泯右調天僊子.

Dựa vào 05 chữ cuối bảng gỗ thứ hai “hữu điệu Thiên tiên tử 右調天僊子 (trở lên là điệu Thiên tiên tử), ta biết đây là một bài từ.

(Biển gỗ thứ hai, bài từ điệu Thiên tiên tử,

Tại nhà thờ Đại tôn họ Nguyễn Huy – trích đoạn)

Theo từ phổ, điệu từ này xuất hiện từ thời Đường, tên điệu vốn xuất phát từ một câu trong bài từ của Hoàng Phủ Tùng (皇甫松) người đời Đường: “Ảo não thiên tiên ưng hữu dĩ 懊惱天仙應有以”. Về mặt cách luật, điệu từ này có hai dạng thức: loại thứ nhất đơn điệu, chỉ có một phiến, gồm 34 chữ, phân ba cách khác nhau, hoặc gieo vần bằng, hoặc vần trắc, hoặc bằng trắc đan xen, gồm 6 câu, cú thức đều là: 7/ 7/ 7/ 3/ 3/ 7; loại thứ hai song điệu, 68 chữ, gồm hai phiến giống dạng gieo vần trắc.

Mô hình cách luật của các dạng như sau:

  • Đơn phiến, 34 chữ, gieo vần trắc, vị trí gieo vần ở các câu 1, 2, 4, 5, 6:

+ T + B B T T / + + B + B + T/ + B B T T B B/ + + T / + + T / + T + B B T T.

(Dấu + là vị trí không cố định về thanh điệu)

Dạng song phiến 68 chữ tương tự như trên, song gồm hai phiến tương tự, hai phiến vần cùng bộ vận.

  • Đơn phiến, 34 chữ, dùng cả vần bằng và vần trắc, vị trí gieo vần ở các câu 1, 2, 3, 5, 6:

B T B B B T T/ B T B B B T T/ B B T T T B B / B T T/ T B B/ B T B B B T B.

  1. Đơn phiến, 34 chữ, dùng vần bằng, gieo vần ở các câu 1, 2, 3 5, 6:

B T B B T T B / B T B B T T B/ T B B T T B B / B T T/ T B B/ B T B B T T B.

Điệu Thiên tiên tử dạng song phiến gồm hai phiến hoàn toàn tương đồng, nếu dùng dạng song phiến để chế tác, trình bày dưới dạng câu đối sẽ rất thuận tiện, song thực tế hai biển gỗ này số chữ và cách luật không hoàn toàn giống nhau. Bảng gỗ thứ nhất gồm 30 chữ, bảng gỗ thứ hai, trừ đi 05 chữ cuối đoạn ghi chú tên điệu từ còn 34 chữ. Lại xét theo nghĩa câu, cách gieo vần, rõ ràng đây không phải điệu Thiên tiên tử theo lối song phiến. Biển gỗ thứ nhất không giống cách luật của điệu từ Thiên tiên tử song lối câu kiểu “trường đoản cú” của nó ít nhiều vẫn mang âm hưởng của thể từ. Biển gỗ thứ hai cú thức và cách gieo vần đúng với điệu Thiên tiên tử, tuy nhiên cách luật không tuân thủ thật nghiêm ngặt từ luật.

Tác phẩm ghi trên hai bảng gỗ có thể ngắt câu, phiên dịch như sau:

I

山之秀氣石之精,

繄惟我高祖獨鍾靈.

少年秋棘冠羣英,

郡朝經試政播聲名.

II

乘彼青鸞駕白雲,

神歸天上澤留人.

好生一念体洪鈞.

憑仙力,

壽斯民,

光岳千秋永不泯.

(右調天僊子)

Phiên âm:

I

Sơn chi tú khí, thạch chi tinh,

Ê, duy ngã cao tổ, độc chung linh.

Thiếu niên thu cức quán quần anh,

Quận triều kinh thí chính, bá thanh danh.

II

Thừa bỉ thanh loan giá bạch vân,

Thần quy thiên thượng, trạch lưu lân.

Hiếu sinh nhất niệm thể hồng quân.

Bằng tiên lực,

Thọ tư dân,

Quang nhạc thiên thu vĩnh bất dân.

(Hữu điệu Thiên tiên tử)

 

Dịch nghĩa:

I

Là khí tinh tú của núi, là tinh anh của đá,

Ôi, duy có cao tổ ta, riêng được chung đúc sự linh thiêng.

Tuổi trẻ, trong kì thi Hội, vượt các bậc anh tài,

Từng thi hành chính sự trong triều ngoài quận, thanh danh vang dội.

II

Cưỡi chim loan xanh kia, bay lên làn mây trắng,

Thần đã về trời, ơn trạch còn ở người dân.

Một niềm hiếu sinh, thể theo lòng trời.

Dựa vào sức bậc tiên,

Làm thọ cho dân này,

[Như] trời đất ngàn thu, mãi mãi không mất.

(Trên đây là điệu Thiên tiên tử)

Các biển gỗ này tuy không đề tên người soạn song dựa vào lối chữ viết, có thể đoán định chúng được chế tác vào thời Nguyễn. Hình thức cách luật của tác phẩm khắc trên hai biển gỗ tuy có khác biệt song nội dung của chúng tương đồng, theo đó, đây là tác phẩm do một tác giả thuộc dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu, viết để thờ “cao tổ” (cụ bốn đời) của mình. Vị cao tổ đó là người đỗ đạt cao trong kì thi Hội, từng làm quan “trong triều ngoài quận”, có nhiều chính tích; khi mất được coi là “thần”, mãi để lại ơn trạch cho dân. Xét gia thế dòng họ Nguyễn Huy ở Tiên Điền, tuy có nhiều nhân vật đỗ đạt cao song người đáp ứng được ba tiêu chí quan trọng trên hẳn không ai khác ngoài Nguyễn Huy Oánh.

Nguyễn Huy Oánh (1713-1789), tự là Kính Hoa, hiệu là Lựu Trai và Thạc Đình (người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An – Nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1732, thi đỗ đầu kì thi Hương, rồi được bổ làm Tri phủ Trường Khánh. 1748, đỗ đầu kì thi Đình, lĩnh chức Hàn lâm viện Đãi chế. Ông từng trải nhiều chức vụ khác nhau, như: Tham mưu đạo Thanh Hoa, Hiệp đồng trấn Nghệ An, Tán trị thừa chính sứ ty xứ Nam Sơn, Nhập nội thị giảng kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, Thiêm đô ngự sử Ngự sử đài, Hữu thị lang bộ Công, Thượng thư bộ Hộ, Tham tụng; từng làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Nguyễn Huy Oánh còn là nhà giáo dục, lập ra Phúc Giang thư viện. Phúc Giang thư viện là một trường học lớn trong vùng, nơi đây chứa hàng vạn cuốn sách, đã đào tạo được gần 20 Tiến sĩ. Ngay khi sinh thời, năm 1783, Nguyễn Huy Oánh đã được sắc chỉ làm “Uyên phổ hoằng dụ đại vương”, sau khi mất, đến thời Nguyễn, năm 1824, được phong là “Phúc Giang thư viện uyên bác chi thần” (vị thần uyên bác ở thư viện Phúc Giang”. Ông trước tác phong phú, có giá trị trên nhiều phương diện. Tác phẩm hiện còn có: Bắc dư tiện lãm, Quốc sử toản yếu, Huấn nữ tử ca, Phụng sứ Yên kinh tổng ca, Thạc Đình di thảo, Dược tính ca quát… Nguyễn Huy Oánh cũng là một trong số ít tác gia thời Lê có sáng tác theo thể loại, hiện còn 9 bài, nằm trong mục “Thi dư” thuộc sách Thạc Đình di cảo. Trong bài Toại sơ hành trạng (bản hành trạng sau khi từ quan), điệu Quế hoa hương, một bài từ tổng kết cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn Huy Oánh cũng từng nhắc đến việc “Từng thi hành chính sự trong triều ngoài quận”:

“…

Đông tây nam bắc,

Nội triều ngoại trấn tư tư.

Tham mưu tán lý tấu phu công,

Hựu hoàng hoa, dao ủng sứ mao”.

(Khi đông, khi tây, khi nam, khi bắc;

Miệt mài làm quan lúc thì trong triều, khi thì ngoài trấn.

Khi làm Tham mưu, tán lý, lập chiến công lớn;

Lại làm sứ giả mang cờ tiết đi xa).

Trong dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu, cụ Nguyễn Uyên Hậu – Ngũ Kinh bác sĩ thời Lê sơ, là thế hệ thứ nhất, đến Nguyễn Huy Oánh thuộc thế hệ thứ 10. Do biển gỗ không ghi tên người soạn, nên chỉ có thể biết rằng nhân vật đó thế hệ thứ 14, tức là thế hệ sau của Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Huy Vinh.

Địa vị của từ cùng nội dung phản ánh, phong cách nghệ thuật và thẩm mĩ của nó có nhiều điểm khác các thể loại văn học khác, đặc biệt là thơ. Trong từ sử, dù đã có một số từ gia nỗ lực trong việc nâng cao địa vị của từ (như Tô Đông Pha, Lí Thanh Chiếu…), nhưng vẫn không đủ để xóa đi quan niệm về sự “phân cương” vốn tồn tại một cách khá phổ biến trong quan niệm chung của giới sáng tác. Đối với đa số các tác giả, thơ và từ vẫn có ranh giới khá rõ rệt. Nhất là dưới quan niệm coi trọng văn chương chức năng của nhà nho, địa vị của từ không được tôn quý như thơ ca. Đó là cơ sở cho sự xuất hiện quan niệm cho rằng “thi tôn từ ti” (thơ tôn quý, từ thấp hèn). Lại do từ là sản phẩm “trước chén trong hoa” (hoa tiền nguyệt hạ), được chế tác và biểu diễn trong môi trường giàu yếu tố âm nhạc và nữ tính nên từ thiên về trữ tình, lời đẹp mà tình nồng, coi trọng yếu tố duy tình và duy mĩ, tạo nên sự khác biệt nhất định so với thơ ca, từ đó hình thành quan niệm cho rằng “thi trang từ tục” (thơ trang trọng, từ dung tục), “thi trang từ mị” (thơ trang trọng, từ lả lướt), v.v… Ở Việt Nam, tuy từ năm 987, Khuông Việt đại sư đã ứng dụng từ trong công tác ngoại giao song kéo dài đến hết thời Nguyễn, từ vẫn không được giới sĩ đại phu nước ta coi trọng. Dưới thời Nguyễn, tuy sáng tác từ khả quan hơn các giai đoạn khác, song không ít tác giả vẫn giữ thái độ e dè với thể loại này bởi cho là nó có hại cho đạo, không giúp ích cho nền thi giáo, thậm chí còn gợi thói dâm bôn của nước Trịnh nước Vệ. Chính vì thế, việc dùng tác phẩm từ để ca tụng công đức tổ tiên, để “cúng cụ” như trường hợp trên đây tuy chưa hẳn là hiện tượng có một không hai song có thể nói chắc rằng đây là trường hợp hết sức đặc biệt cho thấy quan niệm phức tạp, nhiều khác biệt của các tác giả Việt Nam đối với thể loại từ./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.498-505)


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: , ,