1. Trong bài viết “Một vài nét khác biệt về mặt ngôn ngữ (ngữ pháp) giữa hai nhóm văn bản hán văn trong Thơ văn Lý – Trần (tập I” trên Tạp chí Hán Nôm số 3(28)-1996, chúng tôi có đề cập đến sự khác biệt về ngôn ngữ giữa hai nhóm văn bản được tập hợp trong Thơ văn Lý – Trần (tập I). Trên thực tế, đó là Hán văn của thời Lý trở về trước. Ở đó, chúng tôi nêu lên sự khác biệt giữa ngữ lục Thiên tông và các văn bản có tính chất nghi thức, hành chính và nêu lên 2 mô hình ngôn ngữ của hai nhóm văn bản này. Nhóm các văn bản ngữ lục Thiền tông phần nào định hướng theo ngôn ngữ nói của bạch thoại Trung đại (bạch thoại sớm), do nó chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ các bản dịch kinh Phật và do nhiều yếu tố xã hội – ngôn ngữ khác nữa. Nhóm các văn bản có tính chất nghi thức hành chính viết theo ngôn ngữ của các văn bản cổ (chủ yếu là ngôn ngữ của Kinh thư).

Ở bài viết này, trên cơ sở những gì đã đề cập trong bài báo trên, chúng tôi muốn bàn thêm về một số vấn đề còn lại, để nêu lên những đặc trưng chung của chữ Hán thời Lý – Trần trong mối quan quan hệ với các dạng thức ngôn ngữ viết của tiếng Hán nói chung, qua đó, đặt vấn đề nêu lên vai trò cũng như quan hệ của Hán văn Lý – Trần với tiến trình 10 thế kỷ sử dụng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập nói riêng.

2. Để nêu ra những nhận xét về đặc trưng tình hình sử dụng chữ Hán ở một khoảng thời gian dài gồm 5 thế kỷ vốn thường được gọi bằng một cái tên chung: Hán văn Lý-Trần, cần phải phân loại các văn bản còn lại của giai đoạn này trên hai cơ sở: cấu trúc và chức năng của Hán văn. Nếu xuất phát từ 2 tiêu chí này, Hán văn Lý-Trần được qui vào 3 nhóm văn bản sau:

– Nhóm các văn bản nghi thức, công văn hành chính.

– Nhóm các văn bản ngữ lục Thiền tông.

– Nhóm các văn bản thơ văn.

Mỗi nhóm văn bản trên đây có những đặc trưng phân biệt của mình không chỉ về phương diện mục tiêu, mục đích được viết ra, hay các tác giả – chủ nhân tạo tác văn bản. Hơn nữa, chúng lại có những đặc trưng ngôn ngữ, thể loại, phong cách riêng của mình. Chẳng hạn, ở nhóm các văn bản nghi thức, công văn hành chính, người viết chủ yếu là những người tham gia bộ máy quản lý Nhà nước. Do yêu cầu về nội dung diễn đạt (những mệnh lệnh, chính lệnh, chủ trương nào đó), nên ngôn ngữ của nó phải theo mẫu mực, chủ yếu dựa vào Kinh thư. Khuôn mẫu ngôn ngữ tạo các văn bản này đã trở thành nội dung của thi cử. Trong các khoa thi (nhất là vào thời Trần) đểu có kỳ thi chiếu, biểu. Xét về mặt chức năng xã hội, sự xuất hiện của nhóm văn bản này đã chứng tỏ chữ Hán được khẳng định là ngôn ngữ của mọi hoạt động nghi thức, hành chính. Đây chính là cơ sở để xem chữ Hán là quốc gia văn tự, tạo điều kiện cho việc mở mang, phổ biến chữ Hán, nếu khi xét từ góc độ Nhà nước. Nhóm văn bản ngữ lục Thiền tông, do đặc trưng ngôn ngữ của mình, lại là dấu hiệu cho sự tiếp nối của một thời kỳ chữ Hán được dùng như một sinh ngữ ở cuối thời Bắc thuộc sang chữ Hán được dùng như một ngôn ngữ viết thuần tuý ở thời độc lập.

Nhóm các văn bản thơ, phú, văn, ký chủ yếu có niên đại vào thời Trần. Chúng xuất hiện ngày càng nhiều. Đội ngũ những người viết cũng rất đông đảo: vua, quan, Nho sĩ… Sự xuất hiện nhóm văn bản này đã mang đến một bộ mặt mới cho thực tế sử dụng chữ Hán về mọi phương diện: lý tưởng thẩm mỹ, phong cách, thể loại viết, đặc điểm ngôn ngữ… Cũng như các thể loại ở nhóm văn bản nghi thức, hành chính, thơ phú đã trở thành môn thi bắt buộc trong các kỳ thi. Bởi vậy, thơ, phú (và nhất là thơ) xuất hiện ngày càng nhiều, chiếm số lượng chủ yếu trong thực tế sử dụng chữ Hán. Việc thơ có mặt trong thi cử đã khiến cho mức độ người sử dụng chữ Hán để làm thơ tăng lên như Trần Nguyên Đán đã phát biểu:

Đấu tướng tòng thần giai thức tự,
Lại viên, tượng thị diệc năng thi.
(Tướng võ quan hầu đều biết chữ,
Thợ thuyền, thơ lại cũng hay thơ).
(Thơ văn Lý-Trần, tập 3, tr.196)

Thi cử với nội dung thơ phú đã dấn đến sự mở rộng thi phẩm về số lượng và cũng ngầm tạo nên tính nhà trường trong thơ chữ Hán.

3. Phân chia thành ba nhóm văn bản trên đây không có nghĩa là lúc nào ranh giới giữa chúng cũng tuyệt đối rõ ràng, có khi có những hiện tượng chuyển jtiếp. Về mối liên hệ và đặc trưng ngôn ngữ có tính chuyển tiếp ở đây, có lẽ cần phải nhắc đến hai hiện tượng có tính chất chuyển tiếp rõ nét.

Nhiều vua nhà Trần vừa là những người quản lý Nhà nước, vừa là những người rất am hiểu Thiền tông, đồng thời cũng là những người trước tác nhiều bằng chữ Hán. Trong số đó phải kể đến vua Trần Thái Tông. Ông là tác giả của nhiều tập sách có liên quan đến Thiền tông như: Thiền tông chỉ nam (đã thất truyền, nay chỉ còn bài tựa), Khoá hư lục … Ông có sáng tác thơ và bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn được chọn làm mở đầu cho bộ hợp tuyển thơ chữ Hán Việt Nam đầu tiên – Việt âm thi tập do Phan Phu Tiên khởi thảo, Chu Xa hoàn thành, Lý Tử Tấn phê điểm… Các vua như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… đều có thơ. Thơ họ, nói chung, đều nói về Thiền, song chắc hẳn, có nhiều điều khác với ngữ lục Thièn tông thuần tuý… Thơ họ chủ yếu nói đến cuộc sống hiệun thực theo ý vị Thiền, tựa hồ không thấy sáo ngữ của Nho. Thơ họ nặng về tự sự, diễn tả sự vật, hiện tượng, trong sự sâu lắng của đạo Thiền.

Hãy đọc vài câu trong bài Đăng Bảo Đài sơn của Trần Nhân Tông làm ví dụ.

Địa tịch đài dũ cổ
Thời lai xuân vị thâm
Vân sơn tương viễn cận
Hoa kính bán tình âm
Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỳ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm.

Một số vua Trần lại có thi tập. Danh từ thi tập ở đây đã có âm vang Hán học, đâu chỉ còn là những câu kệ của các tổ do học trò ghi lại nữa… Thơ họ có hình thức chải chuốt hơn, tuy vẫn giữ nguyên ý vị Thiền, nhưng mang đầy hơi thở của cuộc sống, đâu đã xuất hiện cách nói quá nhiều điển tích, điển cố… Đây cũng là dấu hiệu cho bước chuyển từ ngữ lục Thiền tông sang ngôn ngữ thơ, mà các Nho sĩ là đại diện ở nửa cuối thế kỷ XIV.

Hiện tượng thơ trở thành di sản Hán văn chủ yếu được sưu tập trong Thơ văn Lý-Trần tập III biểu thị một bước chuyển biến mới trong thực tế dùng chữ Hán. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ của các tác giả được sưu tập ở đây, chúng tôi thấy rằng các văn bản thơ được viết bằng ngôn ngữ hỗn nhập. Thơ thời Trần tạo nên nhóm văn bản riêng, nó có thể được coi là sự chuyển biến có liên quan về văn thể.

4. Cùng với thời gian, do yêu cầu Nhà nước tập quyền, Nho học càng được đẩy mạnh và tương ứng với nó, phạm vi những người biết chữ Hán cũng được mở rộng thêm. Chính tình hình này đã tạo nên một sự chuyển biến mới trong việc sử dụng chữ Hán. Vấn đề chọn khuôn mẫu viết đã được đặt ra và được một nhà Nho tiêu biểu của thời kỳ này là Phạm Sư Mạnh phát biểu trong bài Ngày xuân hoạ thơ vua dưới thuật ngữ “văn thể” của ngữ văn truyền thống.

Duật vân ngũ sắc ủng cung vi,
Tuyệt triệu Nho thần xuất điện trì.
Nhũ yến minh cưu đương ngọ hậu,
Tế chiên quảng hạ thiết hương di.
Thần tâm Nhị đế, Tam vương cổ,
Văn thề Tiên Tần, Lưỡng Hán kỳ.
Trắc thính nội thần truyền nội chỉ,
Kỳ hoa Đại xã định tân nghi.
(Mây lành năm sắc phủ quanh cung cấm,
Chiếu vua gọi Nho thần đến trước thềm điện.
Sau buổi trưa, chim yến, chim cưu kêu,
Dưới cờ tua nhỏ trong ngôi nhà rộng đặt đỉnh hương.
Tấm lòng của Vua như Nhị đế, Tam vương khi xưa,
Văn thể của người kỳ diệu như văn thể thời Tiên Tần, Lưỡng Hán.
Lắng nghe thị thần truyền chiếu chỉ của nội điện,
Định nghi thức mới cho lễ Đại xã cầu được mùa.
(Thơ văn Lý – Trần, tập III, tr.91).

Trong cái tinh thần hướng về “Nhị đế, Tam vương” về phương diện tổ chức Nhà nước, thì văn thể cũng được nhằm vào để viết theo kiểu Tiên Tần, Lưỡng Hán. Đâu còn tình hình như đầu thời Trần có sự phân chia chức năng của Nho, Phật trong Thiên tông chỉ nam tự, mà Trần Thái Tông đã phát biểu nữa. Sự định hướng luôn cả tình hình học chữ Hán, viết chữ Hán cả một thời kỳ, giai đoạn, và có thể nói, cũng là định hướng cho suốt các thế kỷ sau này.

Nói đến “viết bằng chữ Hán” cũng tức là mới chỉ đề cập đến một thuật ngữ chung chung, chưa định hướng rõ xem đó là định hướng vào thời kỳ cụ thể nào. Bời vì, từ khi có hệ thống văn bản viết đến những thế kỷ XIII-XIV, tiếng Hán đã có một bề dày lịch sử, với chí ít là 2 hình thái ngôn ngữ viết. Việc xác định các mẫu mực cần vươn tới là văn thể thời Tiên Tần (văn chư tử) và thời Lưỡng Hán (sử) để người Việt Nam lúc đó hướng vào khi viết, là đã xác định cái tính cách căn bản của cách viết Hán văn từ đây… Điều này còn được quán triệt trong suốt các thế kỷ sau, mà minh chứng hiển nhiên cho tư tưởng này là các bộ tuyển tập đầu tiên về thơ văn Lý-Trần ra đời vào thời Lê sơ chủ yếu sưu tầm thơ Nho, thơ các nhà quản lý mới của giai đoạn Lý-Trần. Nội dung thi học Lý-Trần của Hoàng Đức Lương chủ yếu dành cho thơ Nho cũng là ví dụ cho tính định hướng trên đây…

5. Tính định hướng trên đây, trong bối cảnh bận rộn của công cuộc xây dựng Nhà nước phong kiến tập quyền theo kiểu Nho giáo, đầy ắp công việc, đã mang lại một tinh thần, một dấu ấn riêng của Hán văn Lý-Trần… Hán văn Lý-Trần là Hán văn phác thực, đầy sức sống… Thi cử tuy có hướng vào từ chương, song chưa bị mặt tiêu cực từ chương tác động, nên kẻ sĩ thời Trần có phẩm cách như Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Các vị ấy phẩm hạnh và thanh giới cao khiết, có tư cách người trí thức quân tử như đời Tây Hán, không phải kẻ tầm thường sánh được”.

Sự định hướng vào văn thể Tiên Tần, Lưỡng Hán là sự định hướng vào các giá trị mẫu mực của ngôn ngữ viết tiếng Hán, vào thời mà các ngôn ngữ viết đã đóng vai trò rất lớn trong nhận thức cuộc sống… Những giai đoạn Tiên Tần, Lưỡng Hán trên đây trong lịch sử ngôn ngữ viết của tiếng Hán là những giai đoạn của ngôn ngữ phác thực. Những giá trị cổ điển về ngôn ngữ viết ở thời Tiên Tần đã đạt được trong nhã ngôn (và sau đó gọi là văn ngôn), và lối viết này lại một lần được biến đổi vào thời Lưỡng Hán, mà những gì được ghi chép trong Sử ký của Tư Mã Thiên và Hán thư của Ban Cố đã được người Việt Nam học tập để diễn đạt theo tình hình mới của mình.

Có lẽ ví dụ điển hình nhất cho sự định hướng mô phỏng viết chữ Hán là bài Lâm chung di chiếu của Lý Nhân Tông.

Viết di chiếu lúc lâm chung là việc thường làm. Lâm chung di chiếu của Lý Nhân Tông được Phạm Đình Hổ đánh giá là “già dặn, súc tích, phảng phất như văn đời hán” (Vũ trung tuỳ bút. 1989, tr.136). Hán Văn Đế cũng có một bài Lâm chung di chiếu còn được lưu giữ trong Hán thư. Thế nhưng, nếu so hai bài Lâm chung di chiếu với nhau, thì ta thấy không có gì khác mấy. Khác chăng là công việc cần làm khác, người kế vị khác, tình hình khác… Những cái đó buộc lòng phải tự viết ra, không thể chỉ còn là việc đổi từ, đổi ngữ nữa. Ở những đoạn mới này, ngôn ngữ cổ hơn, đầy rẫy trích dẫn từ Kinh thư. Nếu đem so sánh hai bản di chiếu, xét về ngôn ngữ, ba thấy bản của Lý Nhân Tông ra đời sau bản của Hán Văn Đế hơn chục thế kỷ, lại có cách viết cổ hơn rất nhiều…

Khi định hướng vào văn thể Tiên Tần, Lưỡng Hán và các giá trị cổ điển khác, dường như ở thời Lý – Trần, người ta chỉ chọn từ đây ra những cái gì đặc trưng nhất. Điều này thể hiện qua nội dung thi cử. Chương trình khoa thi năm Bính Tý niên hiệu Quang Thái thứ 9 (1396), ở kỳ thứ ba, thi bài chiếu theo thể Hán… sự định hướng trên đây dễ dẫn đến mô phỏng.

6. Những điều nêu trên là những nét chấm phá, phần nào đã đề cập đến những đặc trưng sử dụng chữ Hán thời Lý-Trần. Hán văn thời Lý-Trần đã tạo nên giá trị cổ điển của mười thế kỷ sử dụng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập. Điều này đã được các nhà trí thức dân tộc các thế kỷ sau đó như Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ… phát biểu.

Đến thời Lê Trung hưng, khi thi cử làm cho văn viết chữ Hán đã trở thành tệ lậu, thì chính là lúc đó người ta đề cao giá trị của Hán văn thời Lý-Trần, coi đó là mẫu mực, lấy đó làm tự hào. Công cuộc sưu tập di sản hán văn Lý-Trần trong nhiều thế kỷ, từ nhiều nguồn… (chủ yếu xuất phát từ góc độ thơ văn), đã phần nào khôi phục lại diện mạo của thực tế sử dụng chữ Hán thời Lý-Trần và đó cũng là một phần rất trọng yếu của mười thế kỷ dùng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập. Có thể nói, chữ Hán ở thời Lý-Trần là chữ Hán phác thực, có ý nghĩa và giá trị cổ điển cho các thế kỷ sau này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

1. Thơ văn Lý – Trần, Viện Văn học. I.II (thượng), III, Nxb. KHXH.

2. Lê Quý Đôn. Kiến văn tiểu lục. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1977.

3. Phạm Đình Hổ. Vũ trung tùy bút. Nxb. Trẻ, 1989.

4. Phạm Văn Khoái: “Một vài nét khác biệt về ngôn ngữ (ngữ pháp) giữa hai nhóm văn bản Hán văn trong Thơ văn Lý – Trần (tập I)” Tạp chí Hán Nôm số 3 (28)-1996.

1. Trong bài viết “Một vài nét khác biệt về mặt ngôn ngữ (ngữ pháp) giữa hai nhóm văn bản hán văn trong Thơ văn Lý – Trần (tập I” trên Tạp chí Hán Nôm số 3(28)-1996, chúng tôi có đề cập đến sự khác biệt về ngôn ngữ giữa hai nhóm văn bản được tập hợp trong Thơ văn Lý – Trần (tập I). Trên thực tế, đó là Hán văn của thời Lý trở về trước. Ở đó, chúng tôi nêu lên sự khác biệt giữa ngữ lục Thiên tông và các văn bản có tính chất nghi thức, hành chính và nêu lên 2 mô hình ngôn ngữ của hai nhóm văn bản này. Nhóm các văn bản ngữ lục Thiền tông phần nào định hướng theo ngôn ngữ nói của bạch thoại Trung đại (bạch thoại sớm), do nó chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ các bản dịch kinh Phật và do nhiều yếu tố xã hội – ngôn ngữ khác nữa. Nhóm các văn bản có tính chất nghi thức hành chính viết theo ngôn ngữ của các văn bản cổ (chủ yếu là ngôn ngữ của Kinh thư).

Ở bài viết này, trên cơ sở những gì đã đề cập trong bài báo trên, chúng tôi muốn bàn thêm về một số vấn đề còn lại, để nêu lên những đặc trưng chung của chữ Hán thời Lý – Trần trong mối quan quan hệ với các dạng thức ngôn ngữ viết của tiếng Hán nói chung, qua đó, đặt vấn đề nêu lên vai trò cũng như quan hệ của Hán văn Lý – Trần với tiến trình 10 thế kỷ sử dụng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập nói riêng.

2. Để nêu ra những nhận xét về đặc trưng tình hình sử dụng chữ Hán ở một khoảng thời gian dài gồm 5 thế kỷ vốn thường được gọi bằng một cái tên chung: Hán văn Lý-Trần, cần phải phân loại các văn bản còn lại của giai đoạn này trên hai cơ sở: cấu trúc và chức năng của Hán văn. Nếu xuất phát từ 2 tiêu chí này, Hán văn Lý-Trần được qui vào 3 nhóm văn bản sau:

– Nhóm các văn bản nghi thức, công văn hành chính.

– Nhóm các văn bản ngữ lục Thiền tông.

– Nhóm các văn bản thơ văn.

Mỗi nhóm văn bản trên đây có những đặc trưng phân biệt của mình không chỉ về phương diện mục tiêu, mục đích được viết ra, hay các tác giả – chủ nhân tạo tác văn bản. Hơn nữa, chúng lại có những đặc trưng ngôn ngữ, thể loại, phong cách riêng của mình. Chẳng hạn, ở nhóm các văn bản nghi thức, công văn hành chính, người viết chủ yếu là những người tham gia bộ máy quản lý Nhà nước. Do yêu cầu về nội dung diễn đạt (những mệnh lệnh, chính lệnh, chủ trương nào đó), nên ngôn ngữ của nó phải theo mẫu mực, chủ yếu dựa vào Kinh thư. Khuôn mẫu ngôn ngữ tạo các văn bản này đã trở thành nội dung của thi cử. Trong các khoa thi (nhất là vào thời Trần) đểu có kỳ thi chiếu, biểu. Xét về mặt chức năng xã hội, sự xuất hiện của nhóm văn bản này đã chứng tỏ chữ Hán được khẳng định là ngôn ngữ của mọi hoạt động nghi thức, hành chính. Đây chính là cơ sở để xem chữ Hán là quốc gia văn tự, tạo điều kiện cho việc mở mang, phổ biến chữ Hán, nếu khi xét từ góc độ Nhà nước. Nhóm văn bản ngữ lục Thiền tông, do đặc trưng ngôn ngữ của mình, lại là dấu hiệu cho sự tiếp nối của một thời kỳ chữ Hán được dùng như một sinh ngữ ở cuối thời Bắc thuộc sang chữ Hán được dùng như một ngôn ngữ viết thuần tuý ở thời độc lập.

Nhóm các văn bản thơ, phú, văn, ký chủ yếu có niên đại vào thời Trần. Chúng xuất hiện ngày càng nhiều. Đội ngũ những người viết cũng rất đông đảo: vua, quan, Nho sĩ… Sự xuất hiện nhóm văn bản này đã mang đến một bộ mặt mới cho thực tế sử dụng chữ Hán về mọi phương diện: lý tưởng thẩm mỹ, phong cách, thể loại viết, đặc điểm ngôn ngữ… Cũng như các thể loại ở nhóm văn bản nghi thức, hành chính, thơ phú đã trở thành môn thi bắt buộc trong các kỳ thi. Bởi vậy, thơ, phú (và nhất là thơ) xuất hiện ngày càng nhiều, chiếm số lượng chủ yếu trong thực tế sử dụng chữ Hán. Việc thơ có mặt trong thi cử đã khiến cho mức độ người sử dụng chữ Hán để làm thơ tăng lên như Trần Nguyên Đán đã phát biểu:

Đấu tướng tòng thần giai thức tự,
Lại viên, tượng thị diệc năng thi.
(Tướng võ quan hầu đều biết chữ,
Thợ thuyền, thơ lại cũng hay thơ).
(Thơ văn Lý-Trần, tập 3, tr.196)

Thi cử với nội dung thơ phú đã dấn đến sự mở rộng thi phẩm về số lượng và cũng ngầm tạo nên tính nhà trường trong thơ chữ Hán.

3. Phân chia thành ba nhóm văn bản trên đây không có nghĩa là lúc nào ranh giới giữa chúng cũng tuyệt đối rõ ràng, có khi có những hiện tượng chuyển jtiếp. Về mối liên hệ và đặc trưng ngôn ngữ có tính chuyển tiếp ở đây, có lẽ cần phải nhắc đến hai hiện tượng có tính chất chuyển tiếp rõ nét.

Nhiều vua nhà Trần vừa là những người quản lý Nhà nước, vừa là những người rất am hiểu Thiền tông, đồng thời cũng là những người trước tác nhiều bằng chữ Hán. Trong số đó phải kể đến vua Trần Thái Tông. Ông là tác giả của nhiều tập sách có liên quan đến Thiền tông như: Thiền tông chỉ nam (đã thất truyền, nay chỉ còn bài tựa), Khoá hư lục … Ông có sáng tác thơ và bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn được chọn làm mở đầu cho bộ hợp tuyển thơ chữ Hán Việt Nam đầu tiên – Việt âm thi tập do Phan Phu Tiên khởi thảo, Chu Xa hoàn thành, Lý Tử Tấn phê điểm… Các vua như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… đều có thơ. Thơ họ, nói chung, đều nói về Thiền, song chắc hẳn, có nhiều điều khác với ngữ lục Thièn tông thuần tuý… Thơ họ chủ yếu nói đến cuộc sống hiệun thực theo ý vị Thiền, tựa hồ không thấy sáo ngữ của Nho. Thơ họ nặng về tự sự, diễn tả sự vật, hiện tượng, trong sự sâu lắng của đạo Thiền.

Hãy đọc vài câu trong bài Đăng Bảo Đài sơn của Trần Nhân Tông làm ví dụ.

Địa tịch đài dũ cổ
Thời lai xuân vị thâm
Vân sơn tương viễn cận
Hoa kính bán tình âm
Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỳ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm.

Một số vua Trần lại có thi tập. Danh từ thi tập ở đây đã có âm vang Hán học, đâu chỉ còn là những câu kệ của các tổ do học trò ghi lại nữa… Thơ họ có hình thức chải chuốt hơn, tuy vẫn giữ nguyên ý vị Thiền, nhưng mang đầy hơi thở của cuộc sống, đâu đã xuất hiện cách nói quá nhiều điển tích, điển cố… Đây cũng là dấu hiệu cho bước chuyển từ ngữ lục Thiền tông sang ngôn ngữ thơ, mà các Nho sĩ là đại diện ở nửa cuối thế kỷ XIV.

Hiện tượng thơ trở thành di sản Hán văn chủ yếu được sưu tập trong Thơ văn Lý-Trần tập III biểu thị một bước chuyển biến mới trong thực tế dùng chữ Hán. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ của các tác giả được sưu tập ở đây, chúng tôi thấy rằng các văn bản thơ được viết bằng ngôn ngữ hỗn nhập. Thơ thời Trần tạo nên nhóm văn bản riêng, nó có thể được coi là sự chuyển biến có liên quan về văn thể.

4. Cùng với thời gian, do yêu cầu Nhà nước tập quyền, Nho học càng được đẩy mạnh và tương ứng với nó, phạm vi những người biết chữ Hán cũng được mở rộng thêm. Chính tình hình này đã tạo nên một sự chuyển biến mới trong việc sử dụng chữ Hán. Vấn đề chọn khuôn mẫu viết đã được đặt ra và được một nhà Nho tiêu biểu của thời kỳ này là Phạm Sư Mạnh phát biểu trong bài Ngày xuân hoạ thơ vua dưới thuật ngữ “văn thể” của ngữ văn truyền thống.

Duật vân ngũ sắc ủng cung vi,
Tuyệt triệu Nho thần xuất điện trì.
Nhũ yến minh cưu đương ngọ hậu,
Tế chiên quảng hạ thiết hương di.
Thần tâm Nhị đế, Tam vương cổ,
Văn thề Tiên Tần, Lưỡng Hán kỳ.
Trắc thính nội thần truyền nội chỉ,
Kỳ hoa Đại xã định tân nghi.
(Mây lành năm sắc phủ quanh cung cấm,
Chiếu vua gọi Nho thần đến trước thềm điện.
Sau buổi trưa, chim yến, chim cưu kêu,
Dưới cờ tua nhỏ trong ngôi nhà rộng đặt đỉnh hương.
Tấm lòng của Vua như Nhị đế, Tam vương khi xưa,
Văn thể của người kỳ diệu như văn thể thời Tiên Tần, Lưỡng Hán.
Lắng nghe thị thần truyền chiếu chỉ của nội điện,
Định nghi thức mới cho lễ Đại xã cầu được mùa.
(Thơ văn Lý – Trần, tập III, tr.91).

Trong cái tinh thần hướng về “Nhị đế, Tam vương” về phương diện tổ chức Nhà nước, thì văn thể cũng được nhằm vào để viết theo kiểu Tiên Tần, Lưỡng Hán. Đâu còn tình hình như đầu thời Trần có sự phân chia chức năng của Nho, Phật trong Thiên tông chỉ nam tự, mà Trần Thái Tông đã phát biểu nữa. Sự định hướng luôn cả tình hình học chữ Hán, viết chữ Hán cả một thời kỳ, giai đoạn, và có thể nói, cũng là định hướng cho suốt các thế kỷ sau này.

Nói đến “viết bằng chữ Hán” cũng tức là mới chỉ đề cập đến một thuật ngữ chung chung, chưa định hướng rõ xem đó là định hướng vào thời kỳ cụ thể nào. Bời vì, từ khi có hệ thống văn bản viết đến những thế kỷ XIII-XIV, tiếng Hán đã có một bề dày lịch sử, với chí ít là 2 hình thái ngôn ngữ viết. Việc xác định các mẫu mực cần vươn tới là văn thể thời Tiên Tần (văn chư tử) và thời Lưỡng Hán (sử) để người Việt Nam lúc đó hướng vào khi viết, là đã xác định cái tính cách căn bản của cách viết Hán văn từ đây… Điều này còn được quán triệt trong suốt các thế kỷ sau, mà minh chứng hiển nhiên cho tư tưởng này là các bộ tuyển tập đầu tiên về thơ văn Lý-Trần ra đời vào thời Lê sơ chủ yếu sưu tầm thơ Nho, thơ các nhà quản lý mới của giai đoạn Lý-Trần. Nội dung thi học Lý-Trần của Hoàng Đức Lương chủ yếu dành cho thơ Nho cũng là ví dụ cho tính định hướng trên đây…

5. Tính định hướng trên đây, trong bối cảnh bận rộn của công cuộc xây dựng Nhà nước phong kiến tập quyền theo kiểu Nho giáo, đầy ắp công việc, đã mang lại một tinh thần, một dấu ấn riêng của Hán văn Lý-Trần… Hán văn Lý-Trần là Hán văn phác thực, đầy sức sống… Thi cử tuy có hướng vào từ chương, song chưa bị mặt tiêu cực từ chương tác động, nên kẻ sĩ thời Trần có phẩm cách như Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Các vị ấy phẩm hạnh và thanh giới cao khiết, có tư cách người trí thức quân tử như đời Tây Hán, không phải kẻ tầm thường sánh được”.

Sự định hướng vào văn thể Tiên Tần, Lưỡng Hán là sự định hướng vào các giá trị mẫu mực của ngôn ngữ viết tiếng Hán, vào thời mà các ngôn ngữ viết đã đóng vai trò rất lớn trong nhận thức cuộc sống… Những giai đoạn Tiên Tần, Lưỡng Hán trên đây trong lịch sử ngôn ngữ viết của tiếng Hán là những giai đoạn của ngôn ngữ phác thực. Những giá trị cổ điển về ngôn ngữ viết ở thời Tiên Tần đã đạt được trong nhã ngôn (và sau đó gọi là văn ngôn), và lối viết này lại một lần được biến đổi vào thời Lưỡng Hán, mà những gì được ghi chép trong Sử ký của Tư Mã Thiên và Hán thư của Ban Cố đã được người Việt Nam học tập để diễn đạt theo tình hình mới của mình.

Có lẽ ví dụ điển hình nhất cho sự định hướng mô phỏng viết chữ Hán là bài Lâm chung di chiếu của Lý Nhân Tông.

Viết di chiếu lúc lâm chung là việc thường làm. Lâm chung di chiếu của Lý Nhân Tông được Phạm Đình Hổ đánh giá là “già dặn, súc tích, phảng phất như văn đời hán” (Vũ trung tuỳ bút. 1989, tr.136). Hán Văn Đế cũng có một bài Lâm chung di chiếu còn được lưu giữ trong Hán thư. Thế nhưng, nếu so hai bài Lâm chung di chiếu với nhau, thì ta thấy không có gì khác mấy. Khác chăng là công việc cần làm khác, người kế vị khác, tình hình khác… Những cái đó buộc lòng phải tự viết ra, không thể chỉ còn là việc đổi từ, đổi ngữ nữa. Ở những đoạn mới này, ngôn ngữ cổ hơn, đầy rẫy trích dẫn từ Kinh thư. Nếu đem so sánh hai bản di chiếu, xét về ngôn ngữ, ba thấy bản của Lý Nhân Tông ra đời sau bản của Hán Văn Đế hơn chục thế kỷ, lại có cách viết cổ hơn rất nhiều…

Khi định hướng vào văn thể Tiên Tần, Lưỡng Hán và các giá trị cổ điển khác, dường như ở thời Lý – Trần, người ta chỉ chọn từ đây ra những cái gì đặc trưng nhất. Điều này thể hiện qua nội dung thi cử. Chương trình khoa thi năm Bính Tý niên hiệu Quang Thái thứ 9 (1396), ở kỳ thứ ba, thi bài chiếu theo thể Hán… sự định hướng trên đây dễ dẫn đến mô phỏng.

6. Những điều nêu trên là những nét chấm phá, phần nào đã đề cập đến những đặc trưng sử dụng chữ Hán thời Lý-Trần. Hán văn thời Lý-Trần đã tạo nên giá trị cổ điển của mười thế kỷ sử dụng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập. Điều này đã được các nhà trí thức dân tộc các thế kỷ sau đó như Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ… phát biểu.

Đến thời Lê Trung hưng, khi thi cử làm cho văn viết chữ Hán đã trở thành tệ lậu, thì chính là lúc đó người ta đề cao giá trị của Hán văn thời Lý-Trần, coi đó là mẫu mực, lấy đó làm tự hào. Công cuộc sưu tập di sản hán văn Lý-Trần trong nhiều thế kỷ, từ nhiều nguồn… (chủ yếu xuất phát từ góc độ thơ văn), đã phần nào khôi phục lại diện mạo của thực tế sử dụng chữ Hán thời Lý-Trần và đó cũng là một phần rất trọng yếu của mười thế kỷ dùng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập. Có thể nói, chữ Hán ở thời Lý-Trần là chữ Hán phác thực, có ý nghĩa và giá trị cổ điển cho các thế kỷ sau này.

Tác giả : Phạm Văn Khoái – Tạp chí Hán nôm số 1 1999

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

1. Thơ văn Lý – Trần, Viện Văn học. I.II (thượng), III, Nxb. KHXH.

2. Lê Quý Đôn. Kiến văn tiểu lục. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1977.

3. Phạm Đình Hổ. Vũ trung tùy bút. Nxb. Trẻ, 1989.

4. Phạm Văn Khoái: “Một vài nét khác biệt về ngôn ngữ (ngữ pháp) giữa hai nhóm văn bản Hán văn trong Thơ văn Lý – Trần (tập I)” Tạp chí Hán Nôm số 3 (28)-1996.


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: , ,