Thời kỳ Nam Bắc triều, thư pháp Trung Hoa cũng phân ra hai phái nam, bắc. Nam triều thịnh hành giản độc (các thẻ tre hoặc gỗ để viết các văn thư), phong cách khoan thai nhàn dật, Bắc triều thì chủ yếu là bia khắc, phong cách nghiêm cẩn, trầm lắng, dầy dặn. Nam triều có nhà sư Trí Vĩnh ( ) là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, đặc biệt nổi tiếng về thảo thư, ông học theo lối chữ của Vương Hi Chi, viết lại “Chân thảo Thiên tự văn” hơn 800 bản, lưu hành khắp các chùa ở vùng Triết đông (phía đông Triết Giang), được người sau vô cùng trọng thị. Ông viết chữ trên gác chùa Vĩnh Hân, những cây bút viết cùn, hỏng chất đầy năm chiếc thùng gỗ lớn, mỗi thùng có thể chứa được hơn một thạch (một thạch tương đương 100 lít), cũng là một giai thoại trong thư sử.
Bia khắc Bắc triều, chữ lệ, chữ khải đều có, mạnh khoẻ, có lực, cùng với bia thời Đường trở thành hai dòng bia khải thư lớn. Bia Bắc triều thì bia Bắc Nguỵ lại là hưng thịnh nhất, do đó gọi là Nguỵ Bi. Người đời Thanh sau này, rất quan tâm nghiên cứu về bia cổ, hầu như đều lấy Nguỵ Bi làm khuôn phép. Thể chữ Nguỵ Bi là loại chữ lấy khải thư làm chính, nhưng dụng bút lại mang hơi hướng ý vị của lối lệ thư. Nguỵ Bi số lượng rất nhiều, nhưng về đại thể có thể phân ra hai loại: loại thứ nhất, đại biểu là “Long môn nhị thập phẩm”, ngoài những bia Pháp sinh, Bắc hải vương, Ưu điền vương, thì các bia còn lại đều dùng phương bút, các nét gập, nét mác, nét phẩy của chữ đều có góc nhọn, tự hình đơn giản, kết cấu chặt chẽ, mạnh cứng vô cùng khoẻ khoắn. Loại thứ hai lấy “Vân Phong sơn tứ thập nhị chủng” của Trịnh Đạo Chiêu ( ) làm đại biểu, đều là nối viết viên bút. Khang Hữu Vi ( ) đời Thanh rất ca ngợi Nguỵ Bi, từng nói: “Nguỵ Bi không có tấm nào không đáng gọi là giai phẩm, tuy như pho tượng của một cô thôn nữ quê mùa, nhưng đầy đặn xinh tươi, trong nét giản dị toát ra tư thái đẹp đẽ, kết cấu từng chữ đều chặt chẽ vô cùng.”, ông còn tổng kết nên mười vẻ đẹp (thập mỹ) của Nguỵ Bi, đó là: “Phách lực hùng cường; Khí tượng hồn mục; Bút pháp khiêu việt; Điểm hoạ tuấn hậu; Ý thái kỳ dật; Tinh thần phi động; Hứng thú hàm túc; Cốt pháp động đạt; Kết cấu thiên thành; Huyết nhục phong mĩ”. Nổi tiếng nhất của Nguỵ Bi, ngoài “Long Môn nhị thập phẩm” và thạch khắc ở núi Vân Phong, còn có “Trương Mãnh Long bi”, “Tung cao Linh miếu bi”, “Cúc Ngạn Vân mộ chí”, “Thạch Môn minh”, “Điếu Tỉ Can văn”, “Lý Trọng Toàn tu Khổng tử miếu bi”, “Giả Tư Bá bi”, “Lý Siêu Bi” …

Nguồn http://nguoihieuco.blogspot.com/2012/06/so-luoc-ve-lich-su-thu-phap-trung-quoc.html

龙门造像铭
龙门造像铭
龙门造像铭
龙门造像铭


龍門造像銘

此拓本貼收錄的是龍門二十品。“龍門二十品”的稱號始自清代,所謂“龍門二十品”是指選自龍門石窟中北魏時期的二十方造像題記,其中十九品在古陽洞,一品在慈香窟。

“龍門二十品”是北魏時期書法藝術的精華之作,它所展現的書法藝術是在漢代隸書和晉代隸書的基礎上發展演化而來的,字體端莊大方、剛健質樸,既具隸書格調,又有楷書因素,是“魏碑”體的代表,在中國書法藝術發展史上具有極崇高的地位。

龍門二十品包括:
《孫秋生、劉起祖二百人等造像記》(公元502年)、《始平公造像記》(公元498年)、《北海王元詳造像記》(公元498年)、《北海王國太妃高為亡孫保造像記》(年月不詳,或於北魏太和、景明)、《牛橛造像記》(公元495年)、《一弗造像題記》(公元496年)、《司馬解伯達造像記》(公元477年-499年間)、《楊大眼造像記》(公元506年)、《魏靈藏造像記》(公元506年)、《鄭長猷造像記》(公元501年)、《惠感造像記》(公元502年)、《賀蘭汗造像記》(公元502年)、《高樹造像記》(公元502年)、《比丘法生造像記》(公元503年)、《太妃侯造像記》(公元503年)、《元燮造像記》(公元507年)、《慈香造像記》(公元520年)、《比丘道匠造像記》(年月不詳)、《馬振拜造像記》(公元503年)、《齊郡王元佑造像記》(公元517年)。

所謂魏碑,是書法界對北魏乃至整個北朝碑誌書藝的總稱,名曰“魏碑體”,或雲“北碑”、“龍門體”,習慣上稱它“魏碑”。龍門北魏造像題記,體法多變,純樸天然,介乎隸、楷之間,有其獨特的風采。從乾嘉至清末,引起了包世臣、康有為等書法家、學者的極力推崇。包世臣在《藝舟雙楫》中稱頌“北朝人書,落筆峻而結體庄和,行墨澀而取勢排宕。”魏體,指北朝元魏時的書體,見於當時的石刻、摩崖、造像等。時楷書初興,脫出隸法,故體貌百變,而以方正凝重為主,世稱“北碑體”,或以元魏三朝中北魏水平最高,又謂之曰“魏體”。故康有為《廣藝舟雙楫,備魏第十》曰“北碑莫盛於魏,莫備於魏”。其筆氣渾厚,總態跳宕,長短大小,各因其體;分行布白,自妙其致;寓變化於整齊之中,藏奇崛於方平之內,皆極精彩。
從書法史上看,“魏碑”產生於楷書的發展時期。阮元《擘經室集,南北書派論》曰:“北碑是中原古法,拘謹拙陋,長於碑磅。”經阮元、包世臣的鼓吹,學習“魏體”之風大熾,形成“碑學”。

魏碑書法藝術,主要分兩大類:一類是佛教的造像題記,一類是民間的墓志銘。僅龍門石窟的造像題記就有三千餘品,而著名的是“龍門二十品”。墓誌在南北朝時十分盛行,其中北魏的墓志銘比前代都多,書法中帶有漢隸筆法,結體方嚴,筆畫沉着,變化多端,美不勝收。魏碑是楷書的一種,魏楷和晉朝楷書、唐朝楷書並稱三大楷書字體。“龍門二十品”書法藝術以漢隸和晉隸為基礎,雜糅各家之長而自成一體,代表了北魏時期書法藝術的極高成就,是“魏碑”體中的傑作。

清代大書家康有為《廣藝舟雙楫》對南北朝碑有“十美”的評述。他說:“古今之中,魏為可宗。可宗為何?曰有十美:一曰魄力雄強。二曰氣象渾穆。三曰筆法跳越。四曰點畫峻厚。五曰意態奇逸。六曰精神飛動。七曰興趣酣足。八曰骨法洞達。九曰結構天成。十曰血肉豐美。是十美者,唯魏碑有之。”概括了魏碑書法雄強、樸拙、自然天成的藝術特點。

就用筆而論,大多數碑帖是方圓並用的。“龍門二十品”雖說純方筆或者說主方筆的佔大多數,但也有方圓兼備的。以我的看法大體可分為三類:第一類主方筆的有慧成、魏靈藏、楊大眼、孫秋生、尉遲、一弗、鄭長猷、惠感、解伯達、道匠、高樹、前侯太妃十二品。第二類主圓筆的有元祐、法生、后侯太妃三品。第三類方圓兼備的有元詳、元燮、馬振拜、高太妃、慈香五品。

從結體特徵上看,“龍門二十品”一是雄強茂密、意態奇逸。這一特徵主要以慧成、孫秋生、惠感、前侯太妃為代表。二是疏密敧正、結構天成。三是長短俯仰、興趣酣足。

“龍門二十品”的章法特徵是伸縮與跌宕兼具,呼應與顧盼相生,有行而越行,相揖而相讓,既不是行書章法的實筆引帶,也不像唐碑那樣行列整齊。總之,在有意無意間一任自然。(文字介紹參考:武慶平的 龍門二十品)
Thác bản pdf có trong thư viện web của học đường !


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: ,