Thầy Phạm Văn Ánh 
         Viện văn học

 

Ở nước ta, từ không có điều kiện phát triển thuận lợi. Các sách từ thoại gần như vắng bóng,việc tìm hiểu quan điểm sáng tác của các từ gia vì thế trở nên hết sức khó khăn. Theo khảo sát của chúng tôi, hiện còn rất ít tác giả để lại những tác phẩm đặng khả dĩ thông qua đó có thể phần nào làm sáng rõ một số quan điểm từ học của họ. Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820 – 1897) là một trong số tác giả hiếm hoi đó.

Miên Trinh tên thật là Nguyễn Phúc Miên Trinh, tự Khôn Chương và Quý Trọng, hiệu Tĩnh Phố và Vi Dã (Vĩ Dạ), là con thứ 11 của vua Minh Mạng, đương thời ông cùng anh trai là Miên Thẩm (1819 – 1870) nổi tiếng về tài năng thơ ca. Miên Trinh trước tác phong phú, tác phẩm hiện còn được tập hợp trong Vi Dã hợp tập, bản in, gồm 12 quyển. Các quan điểm từ học của Miên Trinh nằm rải rác trong một số bài viết thể như: Dữ Trọng Cung luận điền từ thư (Thư gửi Trọng Cung bàn về việc điền từ), Thi từ hợp nhạc sớ (Sớ bàn về thơ từ phối hợp với âm nhạc), Đáp chiếu tráp tử (Tráp tử – tờ tấu – trả lời chiếu vua), Từ tuyển bạt (Lời bạt sách Từ tuyển), được tập hợp trong Vi Dã hợp tập (Sách chữ Hán, kí hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm: A.782/1). Các tác phẩm này là những tư liệu hiếm hoi về lĩnh vực từ luận tại Việt Nam thời trung đại. Dưới đây, chúng tôi dịch chú, giới thiệu bài Thi từ hợp nhạc sớ.

奏曰: 奉交出詞總并批示各理云云, 欽此欽遵, 臣竊惟:

填詞, 詩之苗裔. 詩詞即樂之表裏. 原夫聖人作樂, 以養性情, 育人材, 事神祇, 和上下, 用之祝頌, 用之宴賞, 用之邦國, 其体式功效最為廣大深切. 乃詩篇樂章配於五音六律諸書, 牛充棟. 又參以風運算數, 銖秤寸度, 如宋新樂圖記, 司馬光則主阮逸胡瑗之論, 范鎮則主房庶之說, 相爭莫已. 而齊固失矣, 楚亦未為得也. 東棖西觸, 鶻突蔑略, 摠無定見.

至元明遂無樂書, 禮官經師, 不一留意, 只憑伶人歌工, 洵口嚎嘎, 皆藉口. 以樂經亡, 使古樂不得復, 可勝嘆哉! 殊不知詩自詩, 聲自聲, 而成樂矣. 書曰: “詩言志, 歌永言”. 則詩人自言其志, 或自歌, 或使人歌之. 永言者, 長言也, 言不足則長言之. 蓋詩者, 與歌者不相為謀. 而聲依永, 律和聲, 則以樂器五音六律配之耳. 經師學士多論宮為君, 商為臣, 配合紏結. 至諸填詞家與度曲者, 拘拘相辦以宮商字句, 然詰以何字為宮, 何字為商, 則瞠目橋舌, 則何必爭辦哉! 即辦之亦逐末遺本矣.

蓋樂雖極神, 極奇, 然不外此宮商角徵羽四上尺工五六等字, 則又極簡極易矣. 天之籟即人之聲耳. 人聲未嘗亡而樂亡可乎? 孟子曰: “今之樂猶古之樂”, 信哉!

經術莫邃於樂, 樂雖亡而諸經言樂者具在, 好學深思者, 參攷研求, 自得其大致矣.

臣嘗受業於禮臣故申文權, 與臣兄故綿審, 乃知宮商有一定之聲,而製辭與合樂, 二者各別 . 製辭者不必知宮商, 而合樂者必不可不知宮商. 諸論辦發憤問難甚詳, 今力憊學荒尚記一二, 以實陳奏.

 

Dịch nghĩa:

BẢN SỚ VỀ THƠ TỪ PHỐI HỢP VỚI ÂM NHẠC

Tâu rằng: Vâng giao ra sách Từ tổng1, đồng thời phê thị các điều vân vân… kính vâng theo đó, kính noi theo đó, thần trộm nghĩ rằng:

Điền từ là hậu duệ của thơ. Thơ từ chính là sự hô ứng của âm nhạc. Vốn dĩ thánh nhân chế tác ra âm nhạc, là để hàm dưỡng tính tình, giáo dục nhân tài, thờ quỷ thần, hòa hợp trên dưới, dùng khi chúc tụng, dùng khi sự vụ quốc gia… thể thức và công hiệu của nó rất mực rộng lớn và thâm thiết. Còn các sách về thơ, nhạc chương2 phối hợp với ngũ âm3, lục luật4 thì nhiều khôn xiết kể5. Lại tham khảo thêm phong vận, toán số, cân từng thù6, đo từng tấc, như sách Tân nhạc đồ kí của thời Tống7, Tư Mã Quang thì chủ trương theo cách luận bàn của Nguyễn Dật, Hồ Viện; Phạm Trấn thì theo thuyết của Phòng Thứ, tranh biện với nhau không dứt8. Mà nước Tề vốn đã mất rồi, nước Sở cũng chưa thể nào làm gì được vậy. Va đông đụng tây, mơ mơ hồ hồ, thảy không có định kiến.

Đến thời Nguyên – Minh thì không có sách về âm nhạc, quan phụ trách về lễ, các vị thầy về kinh điển không thật lưu tâm, chỉ dựa vào đám phường chèo con hát, thuận miệng nghêu ngao, đều là truyền miệng cả. Vì Kinh Nhạc đã mất, khiến cho nhạc cổ không thể phục hồi, khá tiếc thay!9 Thực chẳng biết rằng thơ tự là thơ, thanh tự là thanh mà thành nhạc vậy. Kinh Thư viết: “Thơ để nói chí, ca để ngân lời” (vĩnh ngôn). Thế thì thi nhân tự nói chí của mình, hoặc tự hát, hoặc sai người khác hát lên. “Vĩnh ngôn” là ngân dài lời ra vậy, nói không đủ thì phải ngân dài lời. Đại để, thơ và ca không thể phối hợp. Còn thanh thì dựa vào “ngân dài”, luật và thanh thì dùng nhạc khí, ngũ âm, lục lật mà phối hợp vậy.

Các bậc thày giảng dạy về kinh điển và các học sĩ phần nhiều luận rằng Cung là vua, Thương là bề tôi, phối hợp với nhau. Đến như các nhà điền từ và người độ khúc (tự viết nhạc), cứ chăm chăm biện bác với nhau về Cung, Thương, câu, chữ… nhưng vặn hỏi chữ nào là Cung, chữ nào là Thương thì trợn mắt cứng lưỡi [không biết đâu mà trả lời], thế thì hà tất phải tranh biện mà làm gì vậy thay! Vì rằng có biện luận về những điều ấy cũng chỉ là theo ngọn bỏ gốc mà thôi.

Xét lẽ, nhạc tuy rằng cực thần, cực kì, nhưng không nằm ngoài mấy chữ Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ10, tứ, thượng, xích, công, ngũ, lục11 này, vậy nên rất giản rất dị vậy. Sáo của trời12 tức là thanh của người. Thanh của người chưa từng mất mà lại mất nhạc được sao? Mạnh Tử nói: “Nhạc ngày nay cũng là nhạc thời cổ”, đáng tin thay!

Kinh thuật chẳng kinh nào thâm thúy hơn Kinh Nhạc. Kinh Nhạc tuy mất nhưng các kinh nói về nhạc còn đó, người ham học, suy nghĩ sâu xa, tham khảo nghiền ngẫm, tự lĩnh hội đại yếu của nó vậy.

Thần thường theo học bề tôi lễ quan đã quá cố là Thân Văn Quyền và người anh quá cố của thần là Miên Thẩm nên biết rằng Cung, Thương có thanh nhất định, còn việc viết lời (chế từ) và hợp nhạc, hai cái đó có sự phân biệt. Người viết lời không nhất thiết phải biết Cung, Thương; người phối hợp với nhạc không thể không biết đến Cung, Thương. Sự luận biện do phát phẫn mà tỏ bày ra, do cật vấn mà nói ra thậm tường tận. Nay thần sức suy, học hành bỏ bê, hãy xin ghi lại một vài, đem tình thực tâu trần.

 

Chú thích:

  1. Từ tổng: là một tuyển tập từ do hai tác giả Chu Di Tôn và Uông Sâm thời Thanh biên soạn. Chu Di Tôn tuyển chọn và biên tập 26 quyển, Uông Sâm tăng bổ thêm 10 quyển, tuyển chọn tác phẩm từ của các tác giả từ thời Đường, Ngũ đại đến thời Nguyên, cả thảy gồm hơn 650 tác giả với trên 2250 bài.
  2. Nhạc chương: chỉ các tác phẩm thơ ca có thể phối hợp với âm nhạc. Theo nghĩa hẹp, một số tác giả cũng dùng hai chữ này để chỉ thể loại từ (Chẳng hạn Liễu Vĩnh thời Tống đặt tên cho từ tập của mình là Nhạc chương tập).
  3. Ngũ âm: tức năm cung bậc âm thanh, gồm: Cung, Thương, Giốc, Chủy và Vũ.
  4. Lục luật: hệ thống lã luật thời cổ, phân làm âm và dương, dương là luật, âm là lã, gồm: 1. Hoàng chung, 2. Đại lã, 3. Thái thốc, 4. Giáp chung, 5. Cô tẩy, 6. Trung lã, 7. Nhuy tân, 8. Lâm chung, 9. Di tắc, 10. Nam cung, 11. Vô xạ, 12. Ứng chung.
  5. Nhiều không xiết kể: Nguyên văn là “hãn ngưu sung đống”, nghĩa là trâu chở [sách] đến toát mồ hôi, [sách] chất lên tận sà nhà. Trong nguyên bản, chữ “hãn 汗 ” bị khắc nhầm thành chữ “ô 汙”, vì bốn chữ “hãn ngưu sung đống” là một thành ngữ rất phổ thông nên dễ dàng nhận ra sự lầm lẫn này, do đó chúng tôi đính chính lại.
  6. Thù: đơn vị đo nhỏ nhất của thời Tống.
  7. Tân nhạc đồ kí: Sách do Nguyễn Dật và Hồ Viên soạn theo sắc lệnh của nhà vua vào niên hiệu Hoàng Hựu (1049-1054) thời vua Nhân Thông triều Tống.
  8. Đoạn này tác giả theo quan điểm của Tứ khố toàn thư, nguyên ghi chép trong phần Nhạc loại của Tứ khố toàn thư cho biết, thời Tống, nhà vua lệnh cho các nhà làm hệ thống âm nhạc để dâng lên vua rồi xem xét chỗ sai biệt. Bấy giờ “Tư Mã Quang chủ trương theo thuyết của Nguyễn Dật và Hồ Viện; Phạm Trấn chủ trương theo thuyết của Phòng Thứ, tranh luận qua lại với nhau, rốt cục không thống nhất được với nhau” (司馬光主逸、瑗之說, 範鎮主房庶之說, 往反爭議, 卒不能以相一).
  9. Nho gia có Lục kinh, gồm: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu, nhưng Kinh Nhạc sớm thất truyền, chỉ còn lại Ngũ kinh.
  10. Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ: gọi chung là ngũ âm, là âm của đàn, phối hợp với “bội Chủy” và “bội Vũ”, thành 7 thanh âm chính.
  11. Tứ, thượng, xích, công, ngũ, lục: chỉ cao độ của các âm kiểu “cống xế phổ”..
  12. Sáo của trời: nguyên văn là “thiên chi lại”. Theo Trang Tử, đó là tiếng do tự nhiên phát ra./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.25-30)


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: ,