Hình ảnh ông đồ viết chữ Hán tài hoa ở phố phường Hà Nội trước đây đã được nhà thơ Vũ Đình Liên mô tả rất đẹp.

Hoa tay thảo những nét,
Như phượng múa rồng bay.

Truyền thống viết chữ Hán ra đời rất sớm từ trước công nguyên ở Trung Quốc, nó đã trở thành một nghệ thuật và ngày càng phát triển. ở Trung Quốc trước đây, để có được một “tay nghề” điêu luyện, người xưa phải miệt mài tập luyện rất công phu người ta kể lại rằng có những nhà sư ở một mình trên gác cao nhà chùa suốt 30 năm chỉ để khắc lại các chữ khắc trên bia và mẫu chữ đẹp trong các văn bản cổ nổi tiếng để tập luyện và nghiên cứu ý nghĩa. Trong lịch sử Trung Quốc đã có đến mấy trăm nhà thư pháp nổi tiếng, tiêu biểu là Vương Hy Chi (321-379) đời nhà Tấn, chữ đẹp của ông đã làm cho vua Đường Thái Tông (627-650) phải khâm phục và đã cho xuất quỹ ra mua các di bút của ông, rồi ra lệnh cho các quaqn mô phỏng theo đó mà viết.

Hai mẫu chữ đã được trưng bày ở triển lãm thư họa Trung Quốc tổ chức năm 1993 tại Hà Nội

Cũng như một số nước “đồng văn”, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Trung Quốc và đã sản sinh ra những nhà nho viết chữ đẹp nổi tiếng.Trong kho sách của cổ nhân hiện còn lưu giữ ở Thư viện Viện Hán Nôm cũng như những văn bia, bức hoành, câu đối… rải rác đó đây là những bằng chứng sinh động về những nhà thư pháp tài hoa của chúng ta.Những tên tuổi đến nay còn được lưu truyền như Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hoàng Hy Đỗ, Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương… là những nhà thơ có tên tuổi, đồng thời cũng là những nhà thư pháp của Việt Nam.

Đến đầu thế kỷ thứ XX, nền Nho học ở nước ta bắt đầu suy tàn, nhường chỗ cho nền giáo dục Tây học, như nhà thơ Tú Xương đã viết: Vứt bút lông đi, giắt bút chì.

Tuy vậy, ngay trong giới trí thức Tây học cũng có những người được thừa hưởng truyền thống Nho học của gia đình và đã làm thơ hay và viết chữ đẹp. Chúng tôi muốn nói đến trường hợp Vũ Hoàng Chương – một thanh niên đỗ Tú tài Tây, đã theo học khoa Luật trường Đại học Hà Nội, sau đó học Đại học Toán và làm nghề dạy học. Trước Cách mạng Tháng 8, ông nổi tiếng trên thi đàn với tập Thơ say. Ông dịch nhiều bài thơ Đường rất thanh thoát, có làm cả thơ chữ Hán. Ông mất tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1976. Sau đây là bài thơ chữ Hán củaVũ Hoàng Chương do ông viết và dịch, đã in trên Thời văn số 5. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc kèm theo phần phiên âm của chúng tôi.

XUÂN CẢM
Trường khu vạn lý trúc phong thôi,
Tận phó yên trần lưỡng đoan bôi.
Tháp ngoạn vô đoan kim cổ chấn,
Mộng trung bất giác ngọc sơn đồi.
Nhất triêu thần nỗ huyền đăng nhụy.
Tứ xứ chung thanh đáo kiếp hôi.
Đông liễu tây đào tân sắc diện,
Thanh bình nam bắc hữu lương mô.
Thư vu Nam Đô. Quý Sửu tân xuân
Vũ Hoàng Chương

Một điều đáng mừng là trong không khí mở cửa hiện nay của đất nước, chúng ta đã có chú ý đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa – tinh thần của ông cha để lại, mà đã một thời gian dài dường như bị quên lãng. Mấy năm gần đây ở Văn Miếu Quốc Tử Giám đã tổ chức những cuộc triển lãm về thư họa, thu hút đông đảo khách trong nước và quốc tế tham quan. Những bức đại tự, những câu châm ngôn, những bài thơ Đường nổi tiếng của các thi nhân Việt Nam và Trung Quốc, cũng như những bức hoành phi câu đối…do nhà thư pháp cao niên Lê Xuân Hoà viết với nét bút tài hoa, vừa cân đối vừa sắc sảo, khoẻ khoắn đã để lại cho người xem nhiều ấn tượng sâu sắc.

Tuy đã vào ngưỡng cửa của tuổi 85, nhưng cụ Lê Xuân Hòa vẫn rất gắn bó với vốn cổ dân tộc. Theo chúng tôi được biết thì cụ vừa giúp vào việc tổ chức một số lớp truyền thụ kiến thức Nho học cũng như nghệ thuật viết chữ Hán cho những người yêu thích môn học này.

Dạo quanh phố phường Hà Nội, chúng tôi còn được biết thêm một số người viết chữ Hán đẹp như nghệ sĩ nhiếp ảnh Đức Như ở Đội Cấn, anh Hồng Thanh ở Thủ Lệ, các cụ trong câu lạc bộ thơ Hán Nôm ở Thịnh Quang…

Do nhu cầu đa dạng về mặt thưởng thức, do trình độ kinh tế và văn hóa được nâng cao nên nhiều người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau ngày càng ý thức được sự cần thiết phải kết hợp cái hiện đại với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Để kết thúc bài viết ngắn này, chúng tôi cho rằng vấn đề kế thừa và phát huy những mặt tích cực của truyền thống Nho học nói chung, trong đó có nghệ thuật viết chữ Hán (thư pháp) là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của chúng ta. Các cơ quan văn hóa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm… nên tạo điều kiện tổ chức những lớp bồi dưỡng cho những người yêu thích môn nghệ thuật này.

T.A
Tiếng Việt
Tiếng Mường
Sông
Khlông (Ly Hà, Sách)
Sâu
Khlâu (Sách, Đan lai, Ly Hà)
Sống
Klông (Uy Lỗ)(2)
Việc dùng âm “lân” biểu âm “sân”, dùng “lao” biểu âm “sao” như đã nêu ở trên là những chữ Nôm còn giữ được dấu vết của âm Việt cổ. Hoặc cũng có thể nghĩ rằng trong số những từ Hán Việt đồng âm thì đối với đại đa số người Việt cũng chỉ cần nhớ một số từ thông dụng. Còn đối với những chữ khó và ít thông dụng hơn thì chưa hẳn đã là điều cần thiết. Trong khi ở thời điểm đó các tổ hợp phụ âm có chứa lại đang tồn tại phổ biến nên người ta dùng ngay / I / Hán Việt để biểu âm / S / tiếng Việt cũng không có gì là lạ.

Ở đây cũng vậy, thường thì thời kỳ đầu người ta sử dụng nguyên chữ Hán để ghi. như trường hợp chữ “sao” được ghi bằng “lao” 牢 dùng trong nhiều ngữ cảnh với nhiều nét nghĩa khác nhau:

– Chỉ các vì tinh tú:

Sao mai có hiệu Khải Minh,
Sao hôm tối hiện, hiệu rằng Thanh Nam
(Chỉ nam ngọc âm -Thiên Văn chương đệ nhất).

– Biết bao:

Con lều mọn mọn đẹp sao,
Trần thế chẳng cho bén mỗ hào
(Quốc âm thi tập – Thuật hứng)

– Tại sao, vì lẽ gì:

Hiểu (3) hỏi hai vương cớ sao,
Nghĩa là cốt nhục, nỡ bao sinh thù?”
(Thiên Nam ngữ lục, Quyển hạ)

Ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ tương tự như trên trong các tác phẩm Nôm thời Lê sơ. Dần dần về sau, người ta thêm vào bộ phận biểu nghĩa nữa nên trở thành chữ tự tạo. Ví dụ “sao” với nghĩa là “ngôi sao” thì bộ phận biểu nghĩa là chữ “tinh” 星 , “sao” với nghĩa là “tại sao, thế nào” thì bộ phận biểu nghĩa là chữ ‘hà” 何 .

Nhờ có các kí hiệu xác định nghĩa khác nhau nên đã giúp người đọc phân biệt được nghĩa khác nhau của mỗi từ.

Quá trình xảy ra như trên không riêng gì ở chữ ghi từ đồng âm. nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chữ Nôm thời kỳ đầu chủ yếu là dùng chữ giả tá, tức là mượn nguyên cả chữ hán. Theo thống kê của cụ Đào Duy Anh, trong 10 bài đầu của sách Quốc âm thi tập gồm 538 chữ thì có tới 381 chữ giả tá(4). Đó là vì chữ Nôm ở giai đoạn này chỉ thiên về ghi âm mà không chú trọng nhiều về nghĩa. Càng về sau, chữ tự tạo càng có xu hướng tăng dần: biểu hiện của ý thức muốn đặt ra những cách ghi ngày càng chính xác hơn, ăn khớp với âm đọc tiếng Việt. Trên đây là một vài nhận xét của chúng tôi qua việc tìm hiểu các chữ ghi từ đồng âm trong văn bản Nôm, mong sao đem lại ít nhiều bổ ích cho những người đang học tập và tìm hiểu loại hình văn tự này.

Người biên tập: Nguyễn Tá Nhí

CHÚ THÍCH

(1) Hoàng Thị Châu: “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại Đông Nam á qua một vài tên sông”. Thông báo khoa họ c (Văn học – Ngôn ngữ) tập 2 – Nxb. Giáo dục, 1966.
(2) Vương Lộc: “Hệ thống âm đầu tiếng Việt thế kỷ XV-XVI qua cứ liệu cuốn An Nam dịch ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ 1-2/1989.
(3) Hiểu: tức Phụng Hiểu, công thần đời Lý Thái Tông.
(4) Đào Duy Anh: Chữ Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – diễn biến. Nxb. KHXH, H. 1975, tr.119.

Thế Anh


Category: Kiến thức tham khảo

Tags: , ,